VICTORY REVIVAL MINISTRY CENTER

2195 HWY 138 SW, RIVERDALE, GA 30296

TRUNG TÂM MỤC VỤ PHỤC HƯNG ĐẮC THẮNG

  Cảm Ơn Quý Tôi Tớ con cái Chúa xa gần đã tham dư Đại Hội Phục Hưng Đắc Thắng. Xin Quí Vị Nhấn vào Ảnh và Ghi Danh Đại Hội Phục Hưng 2019 bắt đầu từ Bây giờ cho đến  hạn Chót Ghi Danh là Ngày 29 tháng 3 ,2019 .. Đại Hội 2019 sẽ bắt đầu vào tối Thứ Sáu  lúc 7:00pm  ngày 12 tháng 4 đến Trưa chúa nhật 1:00pm 14 tháng 4 năm 2019 ( Apr -12,13,14- 2019). Xin Chúa Ban Phước dư dật trên mỗi Quý Vị  
  • live
  • ebook
  • video
  • teach

Thơ Mời Đại Hội Phục Hưng 2017

Heatherwood Baptist Church, Genesis Vietnamese Mission 


VICTORY REVIVAL MINISTRY CENTER

2195 Hwy 138 SW, Riverdale, GA, 30296

Tel: (770)-996-1893; www.vrmcenter.com ; This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

                                                                                                                                                                  

                                                                                                                              1/20/2017

Kính Gởi: Quý Mục Sư Quản Nhiệm

 

Quý BCH/HT cùng Quý Tín Hữu

 

Kính Thưa Quý Vị,

 

Trước hết Kính thay mặt cho Hội Thánh Kính Gởi lời Chào quý mến đến Quý Vị trong

tình yêu Đại Gia Đình Cứu Chúa Jêsus.

Sau đây Hội Thánh Trân Trọng Kính Mời Quý Vị Cầu Nguyện cho Hội Thánh và Tham Dự Chương Trình Đại Hội “ Victory Revival Conference 2017   tổ Chức tại Atlanta, Georgia :  2195  Hwy 138  sw , Riverdale , GA 30296. Lúc 7:00pm Tối Thứ Sáu ngày 21 tháng 4 năm 2017  đến  2:00pm chiều Chúa Nhật Ngày 23 tháng 4 , 2017.

Diễn Giả  : Rev. Joan Gieson ;  Pastor. Kul Bal ;          Rev. Jamie Massey     ( Luca 4:18-20 . Thần Của Chúa Ngự trên ta ; vì Ngài đã Xức Dầu cho ta… )

Vậy Trân Trọng  Kính Mời Quý vị Cầu Nguyện và Tham Dự. Hội Thánh Rất mong được đón tiếp Quý Vị trong Tình Yêu Của Chúa, Với những ngày Phước Hạnh của Chúa ban cho Đại Hội.  Nguyện Chúa Ban Phước nhiều trên Quý Vị, Gia Đình cùng Hội Thánh.

Kính Thay Cho Hội Thánh

Kính Mời,

Tinhcao

Rev Cao Hữu Tình

 

Guest Speakers

Rev. Joan Gieson
 Joan Gieson Ministries

 of Love

 

Pastor. Kul Bal

Fire and Reign Ministries

 

Rev. Jamie Massey

Jamie Massey

 Ministries

Tạ Ơn Chúa Trong Mọi Hoàn Cảnh

 Untitled-37

 

 

  TẠ ƠN CHÚA TRONG MỌI HOÀN CẢNH

 

 Kinh thánh: I Tê-sa-lô-ni-ca 5:16-23

 

16 Hãy vui mừng mãi mãi,

 

 17 cầu nguyện không thôi,

 

18 phàm việc gì cũng phải tạ ơn Chúa; vì ý muốn của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ đối với anh em là như vậy.

 

19 Chớ dập tắt Thánh Linh;

 

 20 chớ khinh dể các lời tiên tri;

 

 21 hãy xem xét mọi việc, điều chi lành thì giữ lấy.

 

22 Bất cứ việc gì tựa như điều ác, thì phải tránh đi.

 

23 Nguyền xin chính Đức Chúa Trời bình an khiến anh em nên thánh trọn vẹn, và nguyền xin tâm thần, linh hồn, và thân thể của anh em đều được giữ vẹn, không chỗ trách được, khi Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta đến!

 

 BỐ CỤC:

 

1/ Ý muốn của ĐCT là tạ ơn trong mọi hoàn cảnh ( câu 18)

 

2/ Làm thể nào vui mừng và để tạ ơn trong nghịch cảnh ?

 

  • Cầu nguyện không thôi

  • Chớ dập tắt thánh linh

  • Chớ khinh dễ các lời tiên tri

  • Tra xét đời sống

    3/ Sự nên thánh tron ven

    Nội Dung Cùng suy gẫm:

    18- Phàm việc gì cũng phải tạ ơn Chúa; vì ý muốn của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ đối với anh em là như vậy.

    Tạ ơn Chúa trong khi Chúa ban Phước cho mình ấy là việc làm rất dễ. Người đời cũng vậy, ai ban tặng mình, hay giúp mình điều gì đó thì mình cám ơn. Nhưng ở đây Chúa dạy cho chúng ta phàm việc gì Trong tiềng Anh “ 18 Give Thanks in all circumstances, for this is God’s will for you in Christ Jesus”

    / xơ-cùm-ten-sơ/ có nghĩa là tình huống, hoàn cảnh hay trường hợp.

    Vậy dịch cho sát nghĩa là: Trong mọi hoàn cảnh đều phải tạ ơn Chúa ( bản dịch mới 2002 Hội KT Việt nam)

    Bản dịch năm 2011 của Mục sư Đặng văn Báu dịch là Cảm tạ Chúa trong mọi cảnh ngộ vì đó là ý muốn của ĐCT cho anh chị em trong Đức Chúa Jesus Christ.

    Ghi nhớ: câu Kt nầy nếu quý vị dùng trong Đt hay Internet đánh máy dư 1 chữ “ phàm làm việc gì” phải bỏ chữ làm

    Nếu câu KT chép sai, thì chúng ta sẽ đọc sai và sẽ hiểu sai nghĩa. Bài giảng cũng vậy.

    Chỗ nầy tôi xin mở ngoặc một chút để thí dụ. Ở VN và các HT CM&A tại Hoa kỳ đa số cẩn xa cừ câu Kt nầy trên hộp tiền dâng “ Vì ĐCT yêu kẻ dâng của một cách vui lòng” trích trong 2 Cô-rinh-tô 9:7. Nếu đọc hết đoạn Kt thì đây không phải là khúc Kt nói về dâng hiến 1/10 mà nói về “ Dịp tiện về sự làm phước” tức là nói về của dâng, 1/10 là nọp “ các ngươi hãy đêm hết thảy phần mười vào kho, hầu cho có lương thực trong nhà ta; và từ nay các ngươi khá lấy điều nầy mà thử ta Đức Giê hô va vạn quân phán vậy ( Ma-la-chi 3:10).

    Trở lại bài học: Tạ ơn trong mọi hoàn cảnh là ý muốn của ĐCT cho anh chị em trong Chúa. Đây là điều khác biệt giữa CĐN và các tôn giáo khác, cũng như người ngoại Người ta chỉ tạ ơn Thần của họ khi Thần của họ ban phước và họ phỉ bang khi bị tai họa Kt chép trường hợp bà Gióp là như vậy ( Gióp 2:9-10) vợ người nói với người rằng: Ủa ông hãy còn bền đỗ trong sự hoàn toàn mình sao? Hãy nguyền rủa ĐCT và chết đi. 10-Người lại đáp rằng ngươi nói như một người đàn bà ngu nuội. Ủa sao sự phước mà tay ĐCT ban cho chúng ta chúng ta nhận lấy còn sự tai họa mà tay Ngài giáng xuống chúng ta, lại chẳng lãnh lấy sao?”

    Nguồn gốc của lễ Tạ ơn bắt đầu từ Hoa Kỳ vào tháng 9/1960 có 102 người Anh đi tìm tự do thờ Phượng ĐCT vì thời gian đó Tin lành tại Anh quốc đang bị bắt bớ, họ xuống tàu Mayflower vượt đâị tây dương sau 65 ngày đến miền Đông bắc Hoa kỳ vào ngày 11 tháng 12 năm 1620 tại bến Lpymouth Rock nay thuộc bang Masachusetts. Khi tàu cập bến vào mùa đông giá tuyết họ không đủ lương thực để sống đói rét bịnh tật đã cướp đi 46 sinh mạng chỉ còn lại 56 người, họ vẫn cảm tạ ơn ĐCT vì họ là CCĐN cảm tạ ơn Chúa trong mọi hoàn cảnh, vì ý muốn của ĐCT là như vậy. Đến mùa thu năm sau 1621 họ được một vụ mùa khả quan. Họ dâng lên Chúa bằng Bí ngô, khoai bắp.. những sản phẩm đầu mùa thu hoạch được và những con gà tây mới săn được trong rừng họ mời 91 người thổ dân da đỏ địa phương để cùng chung vui bữa tiệc tạ ơn Trời hôm đó.

    Bài học cho chúng ta thấy rằng, cho dù hoàn cnahr đau thương hay hoạn nạn nhưng biết Tạ ơn ĐCT thì Chúa sẽ mở cho chúng ta con đường mới phước hạnh và dư dật.

    Cám ơn Chúa chính nhờ lễ tạ ơn đầu tiên nầy, lúc đầu chỉ có những người Tin lành tin kính Chúa được Phước mà ngày nay tất cả hơn 230 triệu dân Hoa kỳ dầu có Tin Chúa hay không đều được hưởng sự phước hạnh trong mùa tạ ơn nầy ,vì ĐCT ban mưa cho kẻ công bình và người gian ác. Những người làm công ăn lương đều được nghỉ và trả lương dầu người đó Tin Chúa hay không tin cũng vậy vì vào năm 1939 tổng thống Hoa kỳ Rosevelt đã chính thức công bố một ngày lễ tạ ơn Chúa vào ngày thứ năm tuần thứ tư tháng 11 hằng năm. Quốc hội đã đưa dự luật nầy vào Hiếp pháp Hoa Kỳ.

    Môt truyền thống tốt đep của người Mỹ để trở một nếp sống văn hóa một lễ hội quốc gia hành trình của nó phải trải qua 318 năm ròng rã (gần 5 thế hệ trôi qua)

    Đến nay đã trải qua 77 mùa tạ ơn ĐCT theo Hiến Pháp. Nhưng con dân Chúa cho dù được nghỉ hay không được nghĩ ngày holiday dù có được hưởng lương hay không hưởng lương từ người Chủ chúng ta vẫn tạ ơn ĐCt vì sự ban cho của Ngài không xiết kể.

    1/ Chính sự tạ ơn Chúa sẽ nhận được vui mừng mãi mãi

    Có vui mừng mãi mãi, mới thêm lời cầu nguyện không thôi.

    Làm sao cầu nguyện không thôi được? đó là nhờ Đức Thánh linh thường xuyên thăm viếng đời sống mình. Vì vậy Sứ đồ Phao lô khuyên chúng ta chớ dập tắt Thánh Linh, chớ khinh dễ các lời tiên tri, hãy xem xét mọi việc điều chi lành thì giữ lấy, bất cứ điều gì tựa như điều ác thì phải tránh đi.

    Như thể nào là Dập tắt Thánh Linh. Dập tắt Thánh Linh là không dành cho Đức Thánh Linh một vị trí một chỗ cho Ngài. Nhiều Hội thánh ngày nay không hiểu về thân vị của Đức Thánh Linh, hoặc có đề cập đến ĐTL nhưng không có kinh nghiệm thực tế. Kinh nghiệm thực tế cần phải có giá phải trả. Ms Đoàn anh Tuấn là con của Ms Đoàn trung Tín đã chia xẻ kinh nghiệm về quyền năng Chúa ban trên chức vụ hầu việc của ông. Chúa đang thách thức quý vị và tôi có trung tín thực hành theo lời Hay không? Chúa chỉ ban ơn cho người vâng phục và trung tín theo sự phán dạy của Ngài.

    a/ Dập tắt Thánh Linh có thể là thiếu sự trng tín hoặc bằng lời nói vô tín, tiêu cực. Thí dụ như chúng ta thấy anh chi em mình đi chứng đạo hay phát tờ truyền đạo đơn thì khích lệ khen tặng, ủng hộ hỏi thăm giúp đỡ họ, không ra đi thì cầu thay cho họ. động viên họ đó là điều tốt. Nếu chúng ta làm trái lại vì sự đố kỵ ganh ghét thì tức là chúng ta dập tắt Thánh Linh. Vậy chúng ta phải cẩn thận trong lời nói mình Chúa dậy phải giữa môi miệng ngươi, vì cái lưỡi là đô hội của tội ác, ở giữa quan thể chúng ta, làm ô uế cả mình đốt cháy cả đời người, chính mình nó đã bị lửa địa ngục đốt cháy.

    b/ Dập tắt Thánh Linh vì thiếu cầu nguyện bằng tâm linh:

    Vì chúng ta cầu nguyện nhưng không biết cầu nguyện như thể nào là phải lẽ vì thế cầu nguyện bằng bằng môi miệng nhưng cần phải cầu nguyện bằng tâm linh.

    1 Cô-rinh-tô 14:39 Ấy vậy, hỡi anh em, hãy trông mong ơn nói tiên tri, và đừng ngăn trở chi về điều nói tiếng lạ. Nếu ai đó ngăn trở về nói tiếng mới tức là dập tắt Thánh Linh

    1 Cô-rinh-tô 14:5 Tôi ước ao anh em đều nói tiếng lạ cả, song tôi còn ước ao hơn nữa là anh em nói tiên tri. Người nói tiên tri là trọng hơn kẻ nói tiếng lạ mà không giải nghĩa để cho Hội thánh được gây dựng.

    Người nói được tiên tri là cầu nguyện bằng tâm linh và nghe được tiếng Chúa phán vì vậy chớ khinh dễ các lời tiên tri.

 

  Ý muốn của ĐCt là muốn anh chị em đều nên thánh trọn vẹn cho nên khuyên dạy chúng Ta:

 

21 hãy xem xét mọi việc, điều chi lành thì giữ lấy.

 

22 Bất cứ việc gì tựa như điều ác, thì phải tránh đi.

 

Từ ngữ "thánh - holiness" và "nên thánh - sanctification" có cùng ý nghĩa. Nói một cách tổng quát, thánh/ nên thánh là việc làm của Đức Chúa Trời trong chúng ta qua Đức Thánh Linh, để chúng ta được biến đổi giống Chúa. Diều quan trong là chúng ta có mở tấm lòng ra để đón nhận hay không ?

 

 5 yếu tố cần thiết cho sự nên thánh:

 

1. Chúng ta được nối liền với nguồn của sự thánh khiết là Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời phán với ông Môi-se từ bụi gai cháy: "Chớ lại gần chốn này, Hãy cổi giày ngươi ra, vì chỗ ngươi đang đứng là đất thánh" (Xuất Ai Cập 3:5). Bất cứ điều gì thánh đều có mối liên hệ với nguồn của sự thánh khiết. Muốn nên thánh chúng ta phải có liên hệ sống động với Đức Chúa Trời.  Muốn có kết quả của bông trái  Đức Thánh Linh “ Vui mừng Bình an và Hiền từ thì phải gieo hạt giống Yêu  Thương Tiết độ và Nhịn nhục. Gieo hạt giống ra rồi thì phải dùng nước Thánh linh Mềm Mại để tưới thêm vào, bón chất đạm Trung Tín vào gốc rễ.Xịt thuốc Nhân Từ vào để tiêu diệt những con sâu ác độc không ăn hại  lá cành hoa trái. Có như vậy thì mới hái được 3 bông trái Thánh Linh là  Trái Vui Mừng Trái Bình Ạn và  Bông Hiền Từ

 

2. Chúng ta được biệt riêng ra cho Đức Chúa Trời, là người thuộc về Ngài. "Anh chị em há chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ngự trong anh chị em, là Đấng mà anh chị em đã nhận bởi Đức Chúa Trời, và anh chị em chẳng phải thuộc về chính mình sao?" (1 Cô-rinh-tô 6:19-20). Khi bạn nên thánh, bạn để Đức Chúa Trời cứu chuộc mình khỏi tội lỗi, và trở nên người thuộc về Ngài. Chúng ta biết ơn Chúa vì chủ cuộc đời chúng ta bây giờ (Chúa) tốt hơn chủ cũ (chính mình)!

 

3. Chúng ta được biệt riêng ra khỏi những thứ tầm thường. "Các ngươi phải phân biệt giữa thánh và phàm, giữa ô uế và tinh sạch" (Lê-vi Ký 10:10). Từ "chẳng thánh" nghĩa là "phàm tục" hoặc "tầm thường." Bản Dịch Mới dịch "các ngươi phải phân biệt giữa thánh và phàm, giữa ô uế và tinh sạch." Tuyển dân Đức Chúa Trời có thể ăn thịt "sạch," nhưng không được ăn thịt "không sạch." Để được nên thánh, chẳng những cần phân biệt điều thánh và điều phàm, điều ô uế và điều tinh sạch, mà còn phải giữ mình khỏi những thứ phàm tục, tầm thường nữa.

 

4. Chúng ta được biệt riêng ra khỏi những điều tội lỗi và ô uế. Lê-vi Ký 11 nêu lên luật về ăn uống để biệt riêng dân chúng khỏi những thức ăn làm họ ô uế. I Tê-sa-lô-ni-ca 4:3 nói, "Vì ý muốn Đức Chúa Trời, ấy là khiến anh chị em nên thánh: tức là phải lánh sự ô uế." Từ lúc được tái sinh, Chúa kêu gọi chúng ta nên thánh, giữ mình khỏi những việc làm ô uế của thế gian.

 

 Ô uế của thế gian là gì là những việc làm của xác thịt KT chỉ rất rõ ràng mà tuần vừa rồi chúng ta học: “Vả việc làm của xác thịt thì rõ ràng lắm ấy là gian dâm ô uế luông tuồng, thờ hình tượng phù phép thù oán, tranh đấu ghen ghét buồn giận cãi lấy bất bình bè đảng gây gỗ say sưa, mê ăn uống cùng các sự khác giống như vậy. (Ga-lati 5:19-21) tôi nói trước cho ACE như tôi đã nói rồi hễ ai phạm những việc ấy thì không được hưởng nước ĐCT

 

5. Chúng ta vâng lời Đức Chúa Trời. "Các ngươi hãy làm sạch mình, và hãy nên thánh, vì Ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của các ngươi. Các ngươi hãy giữ làm theo những luật pháp Ta: Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng làm cho các ngươi nên thánh" (Lê-vi Ký 20:7-8). Chúng ta thấy rõ gìn giữ luật pháp của Đức Chúa Trời, hay vâng lời Đức Chúa Trời là một khía cạnh thiết yếu của đời sống thánh khiết.

 

Khi được tái sinh, chúng ta ở giây phút bắt đầu của sự nên thánh, chúng ta được sinh vào nhà Đức Chúa Trời và được làm nên thánh. Tội lỗi của chúng ta được tha, tiến trình nên thánh bắt đầu trong đời sống chúng ta. Khi chúng ta ăn năn tội, cả 5 yếu tố này bắt đầu hành động trong đời sống chúng ta. Tuy nhiên, còn một điều quan trọng nữa. Sự nên thánh trọn vẹn xảy ra khi chúng ta hoàn toàn đầu phục Chúa và để Thánh Linh cất bỏ bản chất hư hoại hay bản ngã vị kỷ của chúng ta, làm chúng ta sung mãn nhờ sự hiện diện của Ngài.

 

Lạy Chúa, chúng con cảm tạ ơn Ngài vì sự ban cho của Ngài vô hạn. Giờ nầy con Nhân danh Chúa Jesus người Na-xa-rét Nguyện xin Chúa đổ đầy cho mỗi tôi con Chúa trong Ht chúng con ngay trong giờ nầy. Nếu mỗi đời sống của chúng con trong những ngày qua có những điều thiếu sót nào hoặc chúng con biết hoặc chúng con không biết, nhưng chúa Ngài là Đấng toàn năng Ngài biết chúng con xin ăn năn tội trước mặt Ngài xin  Chúa Tha tội cho mỗi chúng con qua bài học hôm nay để mỗi chúng  con thánh hóa con trọn vẹn, giúp con đi  trọn  tiến trình Ngài dành cho con.  Con cảm tạ ơn Thánh của Ngài.

 

 

 

 Mục sư Phạm Hiếu Đức

 

Thần Học

THẦN HỌC CĂN BẢN

LUẬN VỀ BA NGÔI HIỆP MỘT ĐỨC CHÚA TRỜI

(Trích trong: John Drange Olsen, Thần Đạo Học,

Tủ Sách Người Chăn Bầy, tr. 171-190.)

Đức Chúa Trời là một thể, nhưng chia ra làm ba Ngôi. Lẽ đạo ấy rất sâu nhiệm, không thể lấy tri thức loài người mà dò lường được, cũng không thể nhờ vật lý mà chứng nghiệm được nữa; duy nhờ sự khải thị trực tiếp của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh mới biết được thôi. Lẽ đạo Ba Ngôi chẳng luận về sự thực hữu của Đức Chúa Trời, bèn luận về trạng thái của sự thực hữu ấy. Tra cứu Kinh Thánh thì thấy trong đó theo hai phương diện mà luận về Đức Chúa Trời; mặt nầy thì bày ra Đức Chúa Trời độc nhứt vô nhị; mặt kia thì tỏ ra ba Đấng đều được xưng là Đức Chúa Trời cả, gọi là Cha, Con và Thánh Linh. Tuy ba Đấng ấy đặc biệt chẳng lẫn lộn nhau, thì cũng rõ lắm là ba Ngôi hiệp lại trong một thể yếu rất diệu rất cao. Lẽ đạo nầy tuy ngộ tánh phàm nhân không thể thau rõ nổi, thì nó cũng chẳng tự tương mâu thuẫn đâu, bèn là cái chìa khóa mở ra sự mầu nhiệm tương mâu thuẫn đâu, bèn là cái chìa khóa mở ra sự mầu nhiệm của các lẽ đạo khác, tín đồ có linh giác bao giờ cũng vui lòng công nhận là chánh giáo đáng tin đáng nhận mọi bề vậy.

I. KINH THÁNH LÀM CHỨNG CHO ĐẠO BA NGÔI

Muốn kiểm xác chứng về lẽ đạo Ba Ngôi thì phải khảo cứu Kinh Thánh. Trong cõi thiên nhiên có bằng chứng về sự thực hữu của Đức Chúa Trời; nhưng chẳng có bằng cớ nào chứng cho lẽ đạo Ba Ngôi. Chỉ Kinh Thánh đem xác cứ mà chứng rằng Đức Chúa Trời vốn độc nhất mà lại vẫn là tam vị. Dầu vậy, Kinh Thánh chẳng chỗ nào trực tiếp nói rằng Đức Chúa Trời có ba Ngôi, duy ngụ ý dạy lẽ đạo ấy thôi. Nhưng chúng ta có thể nói chắc chắn rằng hễ ai chẳng nhận Kinh Thánh quả đã dạy lẽ đạo ấy, thì cũng chẳng có thể hiểu được Kinh Thánh dạy lẽ gì cả.

1. CỰU ƯỚC LÀM CHỨNG

Diệu nghĩa của lẽ đạo Ba Ngôi là lẽ đạo khải thị, lần lần bày tỏ ra trong bộ Kinh Thánh. Trong Cựu Ước dầu chưa nói rõ ràng, cũng có nhiều đoạn ám chỉ đến, hoặc bằng lời nói hay là bằng hình bóng. Các bằng chứng của Cựu Ước như sau nầy:

a) Danh từ đa số, -- Chúng ta thử mở Kinh Thánh ra mà xem quyển đầu, đoạn đầu, câu đầu, thì thấy rằng: “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất.” Trong nguyên văn Hê-bơ-rơ, danh Đức Chúa Trời đây là Elohim, một danh từ đa số; chữ “dựng nên” là bara, một động từ đơn số. Danh từ Elohim ấy minh chứng rằng về phương diện trạng thái thực hữu, thì Đức Chúa Trời chẳng phải đơn vị, bèn là đa số, chia ra nhiều Ngôi; còn sự dùng động từ bara theo lối đơn số, ám chỉ rằng các Ngôi ấy đều đồng hiệp như một mà làm việc này.

b) Đại danh từ đa số, -- Trong Cựu Ước Đức Chúa Trời thường dùng đại danh từ đa số “chúng ta” mà tự xưng. Sáng-thế ký 1:26 có chép: “Đức Chúa Trời phán rằng: Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta.” (Cũng hãy xem Sáng-thế ký 3:22; 11:7; Ê-sai 6:8). Cách dùng đại danh từ ấy cũng ám chỉ về lẽ đạo Ba Ngôi, chứng rằng trong thể yếu Đức Chúa Trời có đa số.

c) Thiên sứ của Đức Giê-hô-va, -- Trong Cựu Ước có nói đến một Vị gọi là Thiên sứ của Đức Giê-hô-va. Vị ấy thường hiện ra cho các thánh tổ xưa, nhơn danh Giê-hô-va mà phán, tự xưng mình là chính Giê-hô-va; cũng được kẻ khác nhận là Giê-hô-va và chịu cho họ thờ lạy mình nữa. Những câu Kinh Thánh sau đây luận về Vị ấy: Sáng-thế ký 22:11, 16, 17; 31:11, 13; 16:9, 13. Cũng xem Sáng-thế ký 48:15, 16; Xuất 3:2, 4, 5; Các quan xét 13:20-22.

Vậy Thiên sứ của Giê-hô-va là ai? Kê cứu các đoạn sách nói đến Vị ấy, thì dễ biết rằng chẳng phải một vị thọ tạo đâu, bèn chắc là Ngôi thứ hai trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời, là Đạo (Logos), là Đấng Christ trước khi giáng sanh, đã từng hồi từng lúc mượn hình loài người mà hiện ra trong đời (xem Sáng-thế ký 18:2, 13; Dân-số ký 3:23, 28). Trong Tân Ước cũng có một vị gọi là thiên sứ của Chúa, nhưng vị ấy khác với vị của Cựu Ước; vì vị của Cựu Ước đòi và nhận sự thờ phượng; còn vị trong Tân Ước không cho phép ai thờ lạy mình, chỉ bảo người ta phải thờ phượng Đức Chúa Trời mà thôi. (Xin xem Xuất 3:5 với Khải Huyền 22:8, 9).

d) Sự khôn ngoan, -- Trong Châm Ngôn đoạn 8 có nói về sự khôn ngoan, bày tỏ sự ấy như có vị cách, từ trước vô cùng đồng thực hữu với Đức Chúa Trời, có tánh cách và thể yếu của Ngài. Ví dụ: Châm Ngôn 8:1, 22, 30, 31.

Trong Châm Ngôn 3:19 cũng chép rằng: “Giê-hô-va dùng sự khôn ngoan lập nên trái đất.” (Xin sánh với Hê-bơ-rơ 1:2). Xem kỹ những câu ấy, thì rõ lắm danh từ “khôn ngoan” đây chẳng nói về quan niệm khôn ngoan đâu; nhưng chắc ám chỉ về Đấng Christ, Ngôi thứ hai trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Vị ấy “là Đấng mà Đức Chúa Trời đã làm nên sự khôn ngoan… cho chúng ta” vậy (I Cô-rinh-tô 1:30).

e) Lời dự tả Mê-si, -- Cựu Ước có nhiều câu dự tả Đấng Mê-si-a, tỏ ra Ngài tuy nhiệp nhất với Giê-hô-va, thì cũng là một Đấng đặc biệt, có Ngôi riêng, không lẫn lộn với Đức Chúa Trời. Các câu viện dẫn sau đây ám chỉ rằng Đức Chúa Trời và Đấng Mê-si-a là một mà lại là hai, tuy là nhất thể mà lại phân vị, mỗi Đấng mỗi phẩm cách, mỗi ý chỉ riêng vậy. Ví dụ: Ê-sai 9:5-6; Mi-chê 5:1; Thi Thiên 45:6-7; Ma-la-chi 3:1.

Tóm lại, điều Kinh Cựu Ước khải thị về lẽ đạo Ba Ngôi thì ta phải nhận rằng Cựu Ước chỉ ám chỉ đến lẽ thật ấy, chớ chẳng minh huấn Đức Chúa Trời có Ba Ngôi đâu; nhưng lẽ đạo ấy, quả tiềm tàng trong đó như hột giống, chỉ nhờ cơ hội Tân Ước để nảy nở ra đó thôi.

2. TÂN ƯỚC LÀM CHỨNG

Duy Tân Ước khải thị rõ ràng lẽ đạo về Ba Ngôi Đức Chúa Trời, nhận rằng có ba Đấng đặc biệt gọi là Đức Chúa Trời. Sau đây xin dẫn bằng cớ để chứng cho.

a) Cha được nhận là Đức Chúa Trời, -- Tân Ước luận rất rõ ràng Cha là Đức Chúa Trời, có nhiều câu làm chứng cho; sau đây xin chỉ viện dẫn hai câu mà thôi: Giăng 6:27 và I Phi-e-rơ 1:2.

b) Giê-su Christ được nhận là Đức Chúa Trời, -- Tân Ước cũng có nhiều câu hiển nhiên xưng Đức Chúa Giê-su Christ là Đức Chúa Trời: Giăng 1:1; Rô-ma 9:5; Tít 2:13; Hê-bơ-rơ 1:8; I Giăng 5:20.

c) Thánh Linh được nhận là Đức Chúa Trời, -- Tân Ước lại có nhiều đoạn sách xưng Thánh Linh là Đức Chúa Trời, gọi Ngài là Thánh Linh của Đức Chúa Trời hay là của Giê-su Christ: Công Vụ 5:3-4; I Cô-rinh-tô 3:16; 6:19. Cũng hãy xem I Cô-rinh-tô 12:4-6.

d) Lễ nghi Báp-tem và lời chúc chỉ tỏ ba Ngôi, -- Khi Chúa Giê-su Christ dạy môn đô fveef cách phải làm báp-tem cho người ta, thì ngầm chứng cho lẽ đạo Ba Ngôi, vì bảo phải nhơn danh Cha, Con và Thánh Linh mà làm lễ ấy (Ma-thi-ơ 28:19). Lời Phao-lô chúc phước cho tín đồ Cô-rinh-tô cũng chứng cho lẽ đạo ấy nữa: Ma-thi-ơ 28:19; II Cô-rinh-tô 13:19. Cũng hãy so sánh các câu ấy với Dân-số ký 6:24-27 và Ê-sai 6:3.

Xem những bằng chứng ở trên, thì rõ lắm trong Tân Ước có giới thiệu ba Đấng gọi là Cha, Con và Thánh Linh; cả ba đều được xưng là Đức Chúa Trời, có đồng tánh, đồng cách, đồng thể, đồng căn, đồng đẳng với chính Đức Chúa Trời. Theo cách Kinh Thánh mô tả ba Đấng ấy, thì buộc phải nhận là luận về ba Ngôi đặc biệt hiệp nhất trong một thể yếu. Bằng chứng nhận như thế, thì giáo huấn của Kinh Thánh rất mơ hồ, câu này phản đối với câu kia, không còn thể nào ai hiểu nổi được nữa.

II. BA NGÔI HIỆP MỘT THỂ

1. ĐỊNH NGHĨA

Căn nguyên của lẽ đạo Ba Ngôi là Duy nhứt thần chủ nghĩa. Ba Ngôi Đức Chúa Trời chẳng phải là ba Thần đặc biệt, bèn là ba Ngôi ở trong một thể yếu. Chữ Ngôi đây chẳng đồng nghĩa mười phần với ý nghĩa chữ ngôi thường thông dụng cho cá nhân loài người. Bỏi vì mỗi ngôi riêng trong vòng loài người là mỗi cá nhân đặc biệt, có bản tánh và thể yếu khác nhau. Nhưng Đức Chúa Trời có ba Ngôi ở trong một bản tánh, một thể yếu, và sự nhứt thể ấy định nghĩa riêng cho chữ “ngôi” đó, bất đồng với chữ “ngôi” của loài người. Có thể nói rằng ngôi của ông Xoài bất đồng mọi bề với ngôi của ông Mít, đến đỗi thể yếu của ông này chẳng tương quan với thể yếu của ông kia chút nào. Song trong Đức Chúa Trời ba Ngôi đều do một thể yếu mà ra, có một bản tánh và chính là trạng thái về sự thực hữu của Đức Chúa Trời duy nhất. Dầu vậy, ba Ngôi ấy chẳng lẫn lộn nhau, mỗi Ngôi đều đặc biệt, đứng độc lập, có các nguyên tố của Ngôi riêng.

Bài tín điều Athanase (thế kỷ IV) minh chứng cho ý nầy rằng: “Cha là Đức Chúa Trời, Con là Đức Chúa Trời, Thánh Linh cũng là Đức Chúa Trời; dầu vậy, chẳng có ba Đức Chúa Trời, duy có một mà thôi. Cũng một thể ấy, Cha là Chúa, Con là Chúa, Thánh Linh cũng là Chúa; dầu vậy chẳng có ba Chúa, duy có một mà thôi. Như lẽ thật của Cơ Đốc giáo buộc chúng ta phải nhận rằng mỗi Ngôi trong ba Ngôi Đức Chúa Trời đều cả thảy là Đức Chúa Trời và là Chúa thể nào, thì chính lẽ thật ấy nghiêm cấm chúng ta nói rằng có ba Đức Chúa Trời hoặc ba Chúa cũng thể ấy.”

Xét về ba người riêng trong nhân loại, thì thấy họ có thể yếu chỉ giống như nhau mà thôi; còn ba Ngôi Đức Chúa Trời đồng có một thể yếu duy nhất vô phân. Cả thể yếu duy nhất ấy đều thuộc riêng về mỗi Ngôi, đến đỗi Ngôi nào cũng đều có cả thể yếu, cả thần cách, cả thần đức của Đức Chúa Trời vậy. Cho nên sự đa số trong Đức Chúa Trời chẳng thuộc về thể yếu, bèn là thuộc về Vị cách mà thôi. Chúng ta chẳng nên nói: Đức Chúa Trời là ba Ngôi và một thể yếu; bèn là nói: Đức Chúa Trời là ba Ngôi trong một thể yếu. Còn thể yếu duy nhứt ấy thực hữu theo ba trạng thái gọi là Cha, Con và Thánh Linh vậy.

2. CÁC CHỨNG CỚ VỀ BA NGÔI HIỆP MỘT THỂ

Những bằng cớ sau đây minh chứng cho sự hiệp nhứt của ba Ngôi Đức Chúa Trời.

a) Kinh Thánh chứng rằng Đức Chúa Trời duy nhất, -- Kinh Thánh thường tả ra Đức Chúa Trời là độc nhứt vô nhị. Chính Ngài hằng bảo tuyển dân Ngài rằng: “Hỡi Y-sơ-ra-ên! Hãy nghe: Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta là Giê-hô-va có một không hai” (Phục 6:4). “… Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, chớ chẳng có ai khác” (I Các vua 8:60). Gia-cơ cũng dạy rằng: “Ngươi tin rằng Đức Chúa Trời duy nhứt, ngươi tin phải; các quỷ cũng tin vậy mà run sợ” (Gia-cơ 2:19).

b) Chúa Giê-su Christ làm chứng, -- Chúa Giê-su Christ thường làm chứng rằng Ngài với Cha đều hiệp làm một: Giăng 10:30; 17:23; 14:9, 11. Chúa Giê-su Christ lại chứng rằng Thánh Linh cũng hiệp làm một với Cha và Con nữa: Giăng 14:18; 15:26.

c) Sự tương quan Ngôi này với Ngôi kia làm chứng, -- Ai ai cũng biết rằng mọi vật đều bởi Đức Chúa Trời (tức Cha) dựng nên, như có chép rằng: “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất.” (Cũng xem Xuất 20:8-11). Song nếu khảo cứu Kinh Thánh cho kỹ, thì lại thấy Con cũng dự phần đến cuộc tạo hóa, như trước giả thư Hê-bơ-rơ trong 1:1-3 đã dạy: “Đời xưa, Đức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên tri phán dạy tổ phụ chúng ta nhiều lần nhiều cách, rồi đến những ngày sau rốt nầy, Ngài phán dạy chúng ta bởi Con Ngài, là Con mà Ngài đã lập lên kế tự muôn vật, lại bởi Con mà Ngài đã dựng nên thế gian; Con là sự chói sáng của sự vinh hiển Đức Chúa Trời và hình bóng của bổn thể Ngài, lấy lời có quyền phép Ngài nâng đỡ muôn vật;sau khi Con làm xong sự sạch tội, bèn ngồi bên hữu Đấng tôn nghiêm ở trong nơi rất cao.”

Thế mà Con không những dự phần vào cuộc tạo hóa thôi đâu, lại dự đến mọi công việc khác của Cha làm nữa (Giăng 5:17, 19), hoặc việc bảo tồn muôn vật (Hê-bơ-rơ 1:3), hoặc việc cứu chuộc (II Cô-rinh-tô 5:19; Tít 2:10), hoặc việc phán xét (Hê-bơ-rơ 12:23; Giăng 5:22; Công Vụ 17:31), thì Ngài đều dự đến cả.

Ấy vậy, ta thấy công việc Cha làm cũng gọi là công việc của Con, và công việc Con làm cũng gọi là công việc của Cha; lại chức nhiệm của Cha cũng đồng xưng là chức nhiệm của Con nữa. Thực sự ấy há chẳng chứng minh rằng Cha và Con dầu là hai lại là một, dầu là một, lại là hai sao?

Kinh Thánh cũng có nhiều chỗ tỏ cái tương quan của Ngôi Cha với Ngôi Con là thể nào, thì cái tương quan của Ngôi Thánh Linh với Ngôi Cha Con cũng thể ấy. Giăng dạy rằng Con đến thế gian cốt để bày tỏ lẽ thật về Cha (Giăng 1:18). Chính Chúa dạy Phi-líp rằng thấy Con tức là thấy Cha vậy (Giăng 14:9). Còn về Thánh Linh thì Chúa chứng rằng, Ngài đến cốt để bày ra lẽ thật về con (Giăng 16:13-14).

Trong thư Ê-phê-sô cũng ám chỉ về sự tương quan của Ba Ngôi Đức Chúa Trời, tỏ ra mỗi Ngôi có tương quan với chúng ta nữa: Ê-phê-sô 4:6.

Cũng vì sự tương quan ấy mà Phao-lô xưng Đấng Christ là Thần Linh, lại xưng Thánh Linh vừa là Linh của Đấng Christ, vừa là Linh của Đức Chúa Trời: I Cô-rinh-tô 15:45; II Cô-rinh-tô 3:17; Ga-la-ti 4:6; Phi-líp 1:19; Khải Huyền 5:6.

Ấy vậy, ta thấy rõ Cha, Con và Thánh Linh, cả ba đều đồng kêu tên, đồng một công việc, có tương quan rất thân mật với nhau. Còn điều đó há chẳng chứng minh rằng Đức Chúa Trời là Ba mà Một, Một mà Ba sao?

III. BA NGÔI BÌNH ĐẲNG NHAU

Kê cứu Kinh Thánh thì thấy Ba Ngôi Đức Chúa Trời dường như có thứ bực, vì trong đó tỏ ra Cha là Ngôi thứ nhứt, Con là Ngôi tứh hai, và Thánh Linh là Ngôi thứ ba. Vậy, về thời gian, về quyền năng, về chức vị, thì trong ba Ngôi ấy há có chia ra trước sau, lớn nhỏ, hơn kém chăng? Đáp: Chẳng có đâu; vì Đức Chúa Trời là duy nhất, chia ra ba Ngôi trong một thể yếu, đến đỗi Ngôi nào cũng là Đức Chúa Trời trọn vẹn, nên giữa ba ngôi ấy chẳng có thể có sự bất đồng, bèn pahir có sự bình đẳng mọi bề mới hữu lý.

1. VỀ THỜI GIAN

Luận về thời gian thì trong ba Ngôi Đức Chúa Trời chẳng có trước sau, vì cả ba đều đồng thực hữu từ trước vô cùng. Song có kẻ nói: “Nếu vậy, thì sao gọi Christ là Con độc sanh của Đức Chúa Trời? Bởi vị hễ gọi là Con, thì phải có lúc Con sanh ra chớ?”

Ta đáp rằng: Tuy Ngôi thứ nhất gọi là Cha, và Ngôi thứ hai gọi là Con độc sanh của Cha (Giăng 1:14-16), thì danh từ ấy chẳng ám chỉ về sự khởi đầu thực hữu, bèn chỉ về sự tương đối đời đời của Con với Cha. Nếu xem xét bản tánh của Đức Chúa Trời thì dễ hiểu hơn, Đức Chúa Trời thực hữu đời đời, chẳng có lúc nào mà Ngài không có. Vả, trong thể yếu Đức Chúa Trời đã có ba Ngôi, là Cha, Con và Thánh Linh. Nếu Đức Chúa Trời thực hữu đời đời, thì ba Ngôi ấy tự nhiên cũng thực hữu đời đời vậy. Nói cách khác, nếu Ngôi Cha chẳng khi nào khởi đầu thực hữu, bèn vẫn có từ trước vô cùng, thì Ngôi Con cũng chẳng hề bắt đầu sinh ra, bèn cũng thực hữu từ trước vô cùng vây. Vì nếu chẳng có lúc nào ma không có Ngôi Cha, thì cũng chẳng khi nào mà không có Ngôi Con. Giả như nếu có một mặt trời đời đời, thì tự nhiên cũng phải có ánh sáng đời đời để tỏ ra mặt trời ấy mới hữu lý. Vì nếu chẳng có ánh sáng, thì cũng chẳng có mặt trời. Cũng vậy, nếu Ngôi Cha, vốn là sự chói lói của sự ánh sáng ấy, cũng đã thực hữu từ đời đời vô cùng vậy. Cho nên Ngôi thứ nhất và Ngôi thứ hai đều là thực hữu đời đời cả, từ trước vô cùng Ngôi nầy vẫn là Cha, Ngôi kia vẫn là Con, chẳng chia ra trước sau gì cả.

Về Thánh Linh cũng vậy. Tuy Ngôi thứ ba từ Cha mà ra (Giăng 15:26) và bởi Cha và Con mà sai xuống đời, thì lời ấy bất quá là luận về thời gian Ngôi thứ ba hiện ra cùng loài người, chớ chẳng dạy rằng lúc Ngài giáng lâm thì mới bắt đầu thực hữu đâu. Thánh Linh là một Ngôi trong ba Ngôi Đức Chúa Trời. nếu Đức Chúa Trời, vốn chia ba Ngôi trong một thể ấy. Thế thì, chúng ta thừa nhận rằng về phương diện thời gian, thì ba Ngôi Đức Chúa Trời chẳng chia ra trước sau trên dưới, bèn là đồng thời và bình đẳng nhau mọi bề. (Xem I Ti-mô-thê 1:17; Giăng 1:1; 8:58; Hê-bơ-rơ 9:14.)

2. VỀ QUYỀN NĂNG

Luận về quyền năng của ba Ngôi Đức Chúa Trời, thì Kinh Thánh dạy rõ chẳng có chia ra lớn nhỏ, cả ba đều có quyền năng bằng nhau. Song có kẻ hỏi rằng: “ Chúa Giê-su Christ đã xưng Cha là lớn hơn mình (Xem Giăng 14:28, Mác 13:32). Vậy, trong ba Ngôi há chẳng có sự phân ra lớn nhỏ sao?”

Ta đáp: Chúa Giê-su thật có xưng Cha là lớn hơn mình; nhưng sự lớn nhỏ ấy chẳng thuộc về thể yếu của thần tánh; bèn thuộc về phận sự và thứ tự trong động tác của Ba Ngôi vậy. Có thể nói rằng: Trong động tác của ba Ngôi mỗi Ngôi đều có bổn phận, mà thứ tự thực hành bổn phận của Ngôi nầy Ngôi kia thì có trước sau; nhưng sự trước sau ấy chẳng do sự hơn kém trong thể yếu đâu. Cả Kinh Thánh đều minh chứng rằng hoặc Cha, hoặc Con, hoặc Thánh Linh, cả ba đều là vô sở bất năng, vốn không phân biệt lớn nhỏ chút nào, bèn bình đẳng nhau cả (Xem các câu Kinh Thánh viện dẫn trong phần II, c).

3. VỀ CHỨC VỊ

Luận về chức vị của ba Ngôi Đức Chúa Trời, thì cũng chẳng có sự chia ra cao thấp. Cha, Con và Thánh Linh thật có tâm chi, vị cách và công việc khác nhau, song cả Ba đều đồng linh, đồng thể, đồng tánh, chớ chẳng có sang hèn, cao thấp khác nhau đâu. Song có kẻ hỏi: “Nếu trong Đức Chúa Trời có Cha, Con và Thánh Linh, thì há chẳng nhờ đó chia ra cao thấp sao?”

Ta đáp rằng: Chữ Cha Con đây không nên câu nệ theo nghĩa chữ cha con thế gian. Về cha con của loài người, thì cha vẫn có trước con; con thì bắt đầu mà có từ khi cha sanh hạ nó, có thể yếu khác với cha, và đối với đời thì con đứng về bực dưới cha. Nhưng về ba Ngôi Đức Chúa Trời thì khác. Cha và Con từ đời đời đồng thực hữu. Cha sanh Con từ trước vô cùng, cả hai Ngôi đều một thể yếu, đều gọi là Đức Chúa Trời trọn vẹn. Trong giống loài người con nhờ cha sanh mới có. Song trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời chẳng như vậy đâu; như Cha không nương dựa Con mà thực hữu thể nào, thì con cũng không nương dựa Cha mà thực hữu cũng thể ấy, đến nỗi nếu là xứng hiệp cho Thần thể yếu làm Cha, thì cũng xứng hiệp cho Thần thể yếu làm Con vậy. Song nói cách khác, thì Cha cũng phải nương dựa Con để làm Cha, cũng như Con phải nương dựa Cha để làm Con vậy. Vì nếu trong Thần thể yếu chẳng có Con, thì cũng chẳng có thể có Cha. Cho nên chỗ tương quan Cha Con trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời đã chẳng tương tợ với sự sanh hóa của loài người, thì cũng chẳng tại danh từ ấy mà chúng ta dám đoán rằng trong chức vị Cha Con có sự sang hèn, cao thấp.

Về Thánh Linh cũng vậy, Ngôi ấy từ trước vô cùng là Ngôi thứ ba, từ Cha và Con mà lưu ra, từ vĩnh viễn vốn là Linh của Cha và của Con, gọi là Linh của Đức Chúa Trời và của Christ vậy. Cho nên chúng ta quyết rằng: Cha, Con và Thánh Linh về thể yếu, chức vị, thần tánh, thần đức, thần quyền, thì đều bình đẳng cả, chẳng có chỗ nào gọi là trước sau, cao thấp hoặc khác nhau gì hết. Nhưng về Ngôi riêng, về bổn phận và việc làm thì có thứ tự trước sau: Cha là Ngôi thứ nhât, Con là Ngôi thứ hai, Thánh Linh là Ngôi thứ ba. Cha dự định, Con thực hành, Thánh Linh thành toàn; trong cuộc hành động thì Cha dùng Con, rồi Cha và Con cùng dùng Thánh Linh để làm xong các sự dự định của Cha vậy.

IV. LẼ BA NGÔI HIỆP MỘT RẤT MẦU NHIỆM

Trước khi chưa luận về lẽ đạo Ba Ngôi Đức Chúa Trời thì thấy huyền bí sâu nhiệm lắm; mà luận xong rồi, cũng vẫn còn thấy là lẽ đạo rất cao siêu, khó cho ngộ tánh ta hiểu thấu nổi.

1. KHÔNG CÓ SỰ LÝ GÌ MÀ VÍ DỤ CHỈ RÕ ĐƯỢC

Có kẻ ví dụ Cha, Con, và Thánh Linh như cây có gốc, nhánh và quả; mặt trời có hình, ánh sáng và nóng; vật có hình, sắc có màu; không gian có bề dài, bề rộng, bề cao; loài người có ba nguyên tố, là xác, hồn và linh. Các ví dụ ấy cốt để phát biểu lẽ đạo Ba Ngôi hiệp một; nhưng các sự lý ấy tuy bày tỏ hình bóng của ý niệm trong một, một trong ba, thì cũng chẳng có thể biểu minh hết được đạo mầu nhiệm ấy; vì trong cả cõi vật chất chẳng có cái gì làm ví dụ trọn vẹn về Ba Ngôi Đức Chúa Trời được. Nếu có dùng ví dụ nào, thì phải cẩn thận, dùng lấy nó làm căn cứ cho lẽ đạo ấy, e sai lầm lớn chăng.

2. KHÔNG THỂ LẤY LÝ TƯỞNG MÀ SUY HIỂU

Ta cũng chẳng có thể lấy lý tưởng mà biết được lẽ đạo mầu nhiệm nầy; duy phải nhờ lời khải thị của Kinh Thánh, và đức tin nhận lời ấy, mới mong biết được. Bởi vì lẽ đạo nầy rất huyền diệu cao siêu, trí khôn của người đời suy xét không nổi. Nhưng mà dẫu là lẽ đạo huyền diệu thật, thì cũng không dám kể là huyền nghi vô bằng mà không đáng tin đâu. Ta thường thấy trong loài sanh vật, từ bực hạ lên đến bực trung, bực thượng; hễ vật loại có cơ quan càng nhiều chừng nào thì tinh thần càng lớn chừng nấy, đến nỗi sanh vật hạng dưới khó hiểu bản tánh của sanh vật hạng trên.

Vả, Đức Chúa Trời về mọi phương diện đều là lớn hơn loài người khôn xiết kể. Thần tánh, thần cơ, thần linh của người xứng hiệp với Thần cách Ngài, vượt quá ngộ tánh của ta, cũng như nhân cách của mình vượt quá trí hiểu của thú vật vậy. Cho nên, nếu ngộ tánh ta chẳng nhờ lý tưởng mà hiểu thấu lẽ đạo Ba Ngôi được, thì có lạ gì đâu? Trái lại điều ấy rất tự nhiên, vì nếu chúng ta hiểu thấu mọi sự của bản tánh Đức Chúa Trời, thì chúng ta đã đồng bực với Ngài rồi; mà nếu đồng bực với Ngài thì chính chúng ta là Đức Chúa Trời rồi. Vậy, thì con thờ phượng Ngài làm chi?

3. KHOA HỌC CŨNG KHÔNG THỂ GIẢI NGHĨA

Khoa học cũng chẳng cắt nghĩa về lẽ đạo Ba Ngôi được. Tuy có kẻ dám nói rằng hễ điều nào không lấy lẽ bác học thực nghiệm mà cắt nghĩa, vẫn vô bằng chẳng đáng tin, thì tín đồ cũng chẳng cần đến khoa học để giãi bày sự lý về lẽ đạo ấy, vì thật điều đó hẳn bất năng mọi bề. Song đạo ấy chẳng phải là vô bằng vô lý đâu. Nó được khải thị cho ta cách thích hiệp với sự từng trải của ta.

Vả, chúng ta theo luật tiệm tấn mà học hiểu mọi sự mình có thể hiểu thấu được, hoặc là sự thuộc thể hay là sự thuộc linh cũng vây. Tra xem Kinh Thánh thì rõ ràng lẽ đạo nào cũng từ rẽ đến mắc, từ cạn đến sâu. Cựu Ước khải thị Đức Chúa Trời duy nhất vô phân. Từng hồi từng lúc các trước giả bộ ấy đều dường như ám chỉ về lẽ đạo Ba Ngôi, nhưng Cựu Ước chẳng minh huấn lẽ đạo đó đâu, chỉ nói đến cách lờ mờ mà thôi. Đến từ trời giáng sanh, nhận Đức Chúa Trời là Cha, và chính mình Ngài thì nhận quyền năng của Thánh Linh mà nói và làm. Đến khi chịu chết sống lại, mới được minh chứng rằng là Con Đức Chúa Trời có quyền năng. Trong Cựu Ước cũng nói về Linh của Đức Chúa Trời, nhưng đến Tân Ước mới rõ là Đấng có ngôi riêng, từ Cha và Con mà lưu ra. Còn từ ngày Lễ Ngũ Tuần trở đi, Ngài được khải thị rõ là Ngôi thứ ba trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời.

Tín đồ chân thật cũng từng trãi lẽ đạo nầy theo luật tiệm tấn dường ấy: trước hết lòng tin nhận Đức Chúa Trời độc nhứt vô nhị, là Đấng dựng nên muôn vật, đáng cho mình thờ phượng. Kế sau tấn bộ đến sự tin nhận Đức Chúa Giê-su Christ là Con Đức Chúa Trời, Cứu Chúa của mình. Sau nữa, tín đồ lại hiểu rằng muốn dự phần đến sự linh nghiệm của đạo Cứu rỗi, duy bởi nhờ Thánh Linh ứng dụng đạo ấy trong lòng của mình mới được thôi. Rồi từ đó trong lòng tín đồ chân thật lần lần có sự tấn bộ trong sự hiểu biết lẽ đạo về Cha, Con, và Thánh Linh. Song dầu linh tánh thấu rõ đạo ấy, thì ngộ tánh có lẽ cũng chẳng có thể lấy lời nói mà cắt nghĩa được, vì là lẽ đạo người thuộc linh khả năng tin, song bất năng minh thuyết vậy.

V. CÁC TÀ THUYẾT VỀ LẼ ĐẠO BA NGÔI

Từ cổ chí kim có lắm giao sư xướng lên những tà thuyết về Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Sau đây xin luận qua những tà thuyết quan hệ hơn hết.

1. TÀ THUYẾT VỀ BA CÁCH THỨC HIỆN RA

Trong thế kỷ III có nhà thần đạo Sabellius xướng lên tà thuyết về Ba Ngôi Đức Chúa Trời, dạy rằng ba Ngôi một thể chỉ là ba cách thức Đức Chúa Trời bày tỏ mình ra với loài người, chớ trong thần thể yếu của Đức Chúa Trời chẳng có ba ngôi đặc biệt đâu. Theo ý kiến nầy, trong cuộc tạo hóa Đức Chúa Trời tỏ mình ra bằng Cha; trong cuộc cứu chuộc Ngài tỏ mình ra bằng Con; còn trong việc ban sự sống, gây dựng Hội Thánh, thì Ngài lại tỏ mình ra bằng Thánh Linh.

Thuyết này rất sai lầm vì trái ý Kinh Thánh mọi bề. Kinh Thánh dạy rằng Đấng Christ, Ngôi thứ hai, thực hữu trước khi chưa giáng sanh (Giăng 1:18; Phi-líp 2:6; Cô-lô-se 1:17); kỳ thực, trước buổi sáng thế Cha Con đã giao thông với nhau, yêu thương nhau (Giăng 17:5, 24). Còn Thánh Linh, Ngôi thứ ba, cũng thực hữu trước khi chưa có tín đồ hay là Hội Thánh (Sáng-thế ký 1:2). Lại khi Cha phán cùng Con rằng: “Ngươi là Con yêu dấu của ta” (Lu-ca 3:22), thì há phải Cha lại phán cho chính mình Cha sao? Còn khi Đấng Christ hứa sai Thánh Linh xuống, thì há lại hứa sai mình xuống đấy ư? Nói như vậy thật vô lý quá chừng.

2. TÀ THUYẾT ARIUS

Arius (thế kỷ IV) quê ở Alexandrie, xướng rằng chỉ một mình Cha là Đấng vô thủy, Con và Thánh Linh không bằng Cha, bèn được dựng nên trước buổi sáng thế, Đấng Christ được xưng bằng Đức Chúa Trời, vì thứ bực Ngài là thứ hai đứng sau Đức Chúa Trời, được Đức Chúa Trời ban cho thần quyền để làm việc tạo hóa, cũng do Ngài mà muôn vật được dựng nên vậy.

Lý thuyết ấy rất phản đối Kinh Thánh. Vì nếu Con và Thánh Linh đều là Vị thọ tạo, thì chắc hữu thủy, có lẽ cũng hữu chung nữa chăng. Một thần thọ tạo tự nhiên hữu thủy, và được dựng nên bằng thể yếu khác với thể yếu của Cha. Mà nếu bằng thể yếu khác, thì rõ lắm Con chẳng phải là Đức Chúa Trời, bèn là một vị thọ tạo đó thôi. Nhưng Kinh Thánh dạy rõ lắm Con và Thánh Linh đều là Đấng vô thủy vô chung: Giăng 1:1; Hê-bơ-rơ 13:3.

Còn trong Hê-bơ-rơ 9:14 trước giả gọi Thánh Linh bằng “Thánh Linh đời đời.”

Tà thuyết Arius bị Công Giáo nghị hội Nicee nhóm năm 325 SC bài xích, cầm bằng tà giáo vậy.

3. DUY NHẤT THẦN GIÁO

Giáo nầy do hai chú cháu Lelio Socin (1525-1562) và Faust Socin (1539-1604) đề xướng. Hai nhà ấy chối thần tánh của Giê-su Christ, coi Ngài chỉ là người, nhưng được xưng là Con của Đức Chúa Trời, vì trong sự sanh hạ của Ngài, mẹ Ngài được Thánh Linh cảm hóa cách riêng; như vậy Đấng Christ chỉ là người, chứ chẳng phải là Đức Chúa Trời đâu. Còn Đức Chúa Trời, theo ý kiến này, chỉ có một Ngôi mà thôi.

Lý thuyết nầy giống như lý thuyết Arius, vì chối thần tánh của Đấng Christ; song cũng là khác, vì thuyết kia cho Đấng Christ tuy không phải là Đức Chúa Trời, thì cũng khác với loài người, được dựng nên trước sáng thế; nhưng thuyết duy nhứt thần nầy lại coi Ngài chỉ là người, song kể Ngài là trọn vẹn đệ nhứt trong cả dòng giống loài người vậy. Hiện nay giáo hội Duy nhứt thần chủ trương học thuyết nầy.

4. TAM THẦN THUYẾT

Thuyết này chủ trương rằng Ba Ngôi Đức Chúa Trời tức là ba Thần đặc biệt, có sự hiệp nhứt về sự tổ chức, nhưng chẳng có sự hiệp nhứt trong một thể yếu đâu. Như vậy, chẳng còn là Đức Chúa Trời trọn vẹn nữa, vì không thể nào có sự trọn vẹn ở trong ba Thần. Vì nếu có ba Thần thì phải chia sự trọn vẹn của Đức Chúa Trời ra làm ba, còn sự ấy là sự bất toàn; vì theo sự lý, hễ chi gọi là trọn vẹn mà bị chia ra từng phần, thì đều mất sự trọn vẹn liền vậy.

VI. CÁI DIỆU DỤNG TRONG LẼ ĐẠO BA NGÔI

1. CHÌA KHÓA CẦN YẾU CỦA ĐẠO ĐỨC CHÚA TRỜI

Lẽ đạo Ba Ngôi là thần đạo ở trong thần đạo, là nguồn của lẽ thật, nền của ơn cứu rỗi, neo của đức tin. Nếu ta không tin nhận lẽ đạo Ba Ngôi, thì lời nói trong cả bộ Kinh Thánh chẳng qua là hoa trong gương, trăng dưới nước, chỉ thuộc về hư ảo đó thôi. Nhưng lẽ đạo nầy là gốc của đạo Christ, là chìa khóa của cả sự khải thị của Đức Chúa Trời. Hễ công nhận lẽ đạo nầy, thì bao nhiêu ảo lý khác đều dễ hiểu cả. Nếu Đấng Christ không phải là Đức Chúa Trời, thì Ngài không thể bày tỏ Đức Chúa Trời được. Cơ Đốc giáo chẳng còn đáng gọi là sự khải thị chót, trọn vẹn, có một không hai của Đạo Đức Chúa Trời; duy là một tôn giáo trong nhiều tôn giáo bất đồng, phản đối nhau, bao hàm một ít lẽ thật, mà cũng lẫn lộn với nhiều sự sai lầm nữa đó thôi. Về Thánh Linh cũng vậy. Như chỉ có thể nhờ Đức Chúa Trời mà bày tỏ Đức Chúa Trời, thì người ta cũng chỉ có thể nhờ Đức Chúa Trời mà áp dụng Đức Chúa Trời cho mình. Nếu Thánh Linh không phải là Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời cũng chẳng có phương pháp nào đem tình yêu thương Ngài với các hạnh phước do bản ngã Ngài mà áp dụng vào lòng chúng ta được. Nói cách khác, nếu lẽ đạo Ba Ngôi không chân thật, thì chúng ta chỉ còn có thiên nhiên thần đạo, chỉ thờ phượng một Thần rất cao xa, không ai biết, nhờ cõi thiên nhiên tỏ ra cách lờ mờ khó hiểu; còn kết quả của sự thờ phượng ấy chỉ là dẫn chúng ta vào rừng rậm mù tối của tà giạo vạn hữu thần đó thôi.

2. CẦN YẾU CHO PHƯỚC LẠC VÔ CÙNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Ta thường thấy, nếu một người bị nhốt trong một phòng riêng, thì thật là đơn cô buồn tẻ không thể chịu nổi. Ấy bởi vì người ta ai ai cũng có thiên tánh giao thông. Hễ ai không được thỏa mãn bản tánh ấy, không thể nào làm người trọn vẹn. Vả, loài người đã được dựng nên giống như Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta chối lẽ đạo Ba Ngôi thì cũng chối Đức Chúa Trời có nguyên tánh giao thông vậy. Xét ra một Đức Chúa Trời ở chốn thái hư một mình, không ai bạn hữu, không người thân yêu, thật là tình trạng khốn khổ vô cùng, ngộ tánh ta không sao nhận được ấy quả là nguyên trạng của Đức Chúa Trời trọn vẹn vô cùng đâu. Mà nếu trong Đức Chúa Trời không có Ba Ngôi, thì cũng chẳng có sự giao thông thân mật, chẳng ai bình đẳng với Ngài, cũng chẳng ai biết lòng Ngài, chẳng ai giúp việc Ngài, cũng chăng rai bày tỏ Ngài ra cho ta hiểu được. Theo lẽ tự nhiên trong đời chẳng chi quý báu hơn tình yêu thương. Nếu trong cả thế giới chẳng có ai thương mình, thì mình há chẳng là người khốn khổ hơn hết sao? Dầu mình giàu có bốn biển mà chẳng có ai thương mình, thì chắc phải ngó núi cao mà tuôn lệ, trông biện rộng mà ngậm ngùi. Người như thế là lạc linh giữa thế gian đáng thương hại biết là dường nào! Song le, nhờ đó chúng ta suy nghĩ ra: Đức Chúa Trời vốn là Đấng thương yêu vô hạn vô lượng; nếu không có Đấng khác cũng vô hạn vô lượng như Ngài, để cùng dần gũi, cùng yêu đương, thì ôi thôi, Đức Chúa Trời cũng là một vị Lạc Linh đáng thương thay! Song luận như vậy thật vô lý, lại là phạm thượng nữa! Trong Đức Chúa Trời có đủ Ba Ngôi bình đẳng nhau, vẫn giao thông nhau, yêu thương nhau, hiệp tác nhau cách thỏa lòng đồng ý. Kê cứu Châm Ngôn 8:22-31 và Giăng 17:5, 24, thì biết được trước buổi sáng thể đã có sự giao thông, yêu thương cao xa thân mật của Ba Ngôi Đức Chúa Trời, làm cho Ba Ngôi ấy thỏa lòng phỉ chí vô cùng; về sau dầu tạo ra muôn ngàn thế giới cũng không thêm bớt gì nữa.

3. CẦN YẾU CHO ĐẠO CỨU RỖI

Nếu Đức Chúa Trời chỉ độc nhứt chẳng có tam vị nhứt thể, thì làm sao nên công cứu rỗi? Vì ở giữa Đức Chúa Trời và vị thọ tạo cao hơn hết có cái vực rất rộng rất sâu; nếu Đấng Christ không phải là Đức Chúa Trời, ai sẽ làm trung bảo, chuộc tội ta, bắt cầu qua vực sâu ấy mà đem ta trở lại cùng Đức Chúa Trời? Đấng Christ đứng trong thứ bực nào, thì chỉ có thể đem chúng ta đến thứ bực ấy. Thứ bực ấy gần hay xa Đức Chúa Trời bao nhiêu, thì chúng ta nhờ Đấng Christ mà được gần hay xa Đức Chúa Trời cũng bấy nhiêu. Duy Đấng có thần tánh thật mo ứi có thể hiến ta phục hòa với Đức Chúa Trời thôi. Ta vốn yếu đuối, có lòng bất khiết; song chỉ Đức Chúa Trời có thể ban sức cho ta, tẩy uế lòng ta. Một Đức Chúa Trời độc nhứt chẳng có phức số, có lẽ có thể làm Quan án ta, song chẳng có thể làm Cứu Chúa ta, khiến ta nên thánh bao giờ. Nhưng tạ ơn Đức Chúa Trời! Trong Ngài có phức số, tức là có Cha yêu thương vô hạn vô lượng; có Con làm Trung bảo, tỏ ra Cha, đem ta đến gần Đức Chúa Trời; có Thánh Linh thêm sức cho ta, lấy huyết của Đấng Christ mà tẩy uế lòng ta. Ba Ngôi ấy mới đủ nên công cứu rỗi ta vậy. Xem Giăng 3:16; 1:18; II Cô-rinh-tô 5:18-19; Giăng 16:7-11.

4. CẦN YẾU ĐỂ LÀM MÔ PHẠM CHO TA

Nếu trong Đức Chúa Trời chẳng có ba Ngôi, thì phận làm Cha của Đức Chúa Trời hữu thủy, có lẽ cũng hữu chung nữa; phận làm Con của Đấng Christ cũng tạm thời, về sau đây có lẽ sẽ hết chăng. Bằng vậy, phận làm Cha làm Con của Đức Chúa Trời đều bất toàn., chẳng có ích gì cho ta cả. Nhưng nếu phận làm Cha làm Con của Đức Chúa Trời đều thuộc về bản tánh vĩnh viễn của Ngài, thì làm mô phạm cho ta, chỉ dạy cho ta bổn phận của cha là hy sinh mình, ban mình nhưng không cho con; lại dạy ta bổn phận của con là vâng phục, yêu mến cha. Còn luật yêu thương buộc ta phải giống như Đức Chúa Trời trong các sự ấy, coi phận sự đó là mục đích tối thượng của bản ngã mình. Nói cho đúng, nếu trong Đức Chúa Trời không có Cha, Con và Thánh Linh, thì chúng ta cũng chẳng có chỗ nào làm mô phạm về tình nghĩa cha con, về sự vì kẻ khác mà hy sinh mình, về sự yêu thương vâng phục, về sự giao thông thân mật hạnh phước.

TỔNG LUẬN

Ấy vậy, lẽ đạo Ba Ngôi dầu là cao xa khó thấu, chẳng có thể lấy khoa học mà giải quyết, hoặc dùng triết lý mà chứng minh vì thật là sự mầu nhiệm trong sự mầu nhiệm của thần đạo, thì cũng chẳng phải là hư ảo vô bằng đâu; Đức Chúa Trời đã khải thị đạo ấy ra cách rõ ràng đích xác, đáng tin lắm, nên chúng ta chẳng dám lấy trí khôn hữu hạn mà dò lường cạn cợt, phán đoán sai lầm, song nếu lây slongf tin mà công nhận, thì chắc nghiệm lẽ thật quý báu ấy trong sự từng trải mình, đến nỗi được giao thông với Cha, Con và Thánh Linh cách thân mật phước lạc vô cùng, đến nỗi chẳng còn có tí gì hồ nghi, khó tin trong lòng mình nữa.

Trích sách: Thần Đạo Học

Suy Gẫm Lời Chúa

Điều Bí Mật Về Sự Cung Cấp Của Thiên Chúa

Trong Lu-ca 12:31-32 Chúa Giê-su bảo chúng ta, "31 Nhưng, hãy tìm kiếm Nước Đức Chúa Trời... 32 Hỡi bầy chiên nhỏ, đừng sợ, vì Cha các ngươi đã bằng lòng cho các ngươi nước thiên đàng." (trong Ma-thi-ơ 6:33 viết, Ngài nói, "Trước hết hãy tìm kiếm Nước Đức Chúa Trời, ... và mọi điều ấy nữa sẽ được ban thêm cho các con.")

Bí quyết để nhận được sự cung cấp của Thiên Chúa là đặt Nước của Chúa Trời trước hết, rồi mọi thứ khác sẽ được thêm vào cho bạn. Điều đó bao gồm tất cả mọi thứ làm bạn lo lắng và phấn đấu để có được. Đức Chúa Trời hứa Ngài sẽ thêm chúng cho bạn.

Tôi biết với một số người điều này là quá đơn giản. Nó chỉ như một khái niệm trẻ con để bị gạt sang một bên. Nhưng, làm như vậy là một sai lầm nghiêm trọng. Đừng bao giờ đánh giá thấp sức mạnh của sự vâng phục. Khi chúng ta vâng lời Thiên Chúa và nhận được những ưu tiên của chúng ta theo thứ tự, nó mở khóa và giải phóng các phước lành lạ thường trong cuộc sống chúng ta.

Khi chúng ta đặt tâm linh ở trên vật chất, khi chúng ta đặt nguyên nhân và sứ mệnh của Nước Đức Chúa Trời trước những ham muốn cá nhân mình, thì điều này sẽ khiến cho mọ̣i việc được thêm vào cho cuộc sống chúng ta.

Tôi nhớ đọc về ông James L. Kraft. Ông bắt đầu việc kinh doanh mình bằng cách bán pho-mát trên các đường phố ở Chicago, nhưng bị thất bại thảm hại. Một ngày nọ, có người bạn Cơ Đốc nói với ông, "James Lewis, bạn không có Đức Chúa Trời trên hết trong cuộc sống, hoặc trong kinh doanh của bạn. Hãy đặt Ngài nơi hàng đầu trong tất cả những việc bạn làm, và bạn sẽ thấy một thành quả khác biệt." Từ ngày đó, ông đặt Nước Đức Chúa Trời trước hết trong mọi đường lối và ông đã xây dựng nên một ‘đế chế’ bán pho-mát lớn nhất thế giới.

Điều trước nhất, Chúa Giê-su nói: "Đừng lo lắng. Chỉ cần đặt những ưu tiên của bạn theo hàng, và Đức Chúa Trời sẽ chăm sóc cho bạn."

Mục sư Bayless Conley ( ISOM)

Ba Ngôi Hiệp Một Đức Chúa Trời

 

banner vrc 2011

THẦN HỌC

 

LUẬN VỀ BA NGÔI HIỆP MỘT ĐỨC CHÚA TRỜI

(Trích trong: John Drange Olsen, Thần Đạo Học,

Tủ Sách Người Chăn Bầy, tr. 171-190.)

Đức Chúa Trời là một thể, nhưng chia ra làm ba Ngôi. Lẽ đạo ấy rất sâu nhiệm, không thể lấy tri thức loài người mà dò lường được, cũng không thể nhờ vật lý mà chứng nghiệm được nữa; duy nhờ sự khải thị trực tiếp của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh mới biết được thôi. Lẽ đạo Ba Ngôi chẳng luận về sự thực hữu của Đức Chúa Trời, bèn luận về trạng thái của sự thực hữu ấy. Tra cứu Kinh Thánh thì thấy trong đó theo hai phương diện mà luận về Đức Chúa Trời; mặt nầy thì bày ra Đức Chúa Trời độc nhứt vô nhị; mặt kia thì tỏ ra ba Đấng đều được xưng là Đức Chúa Trời cả, gọi là Cha, Con và Thánh Linh. Tuy ba Đấng ấy đặc biệt chẳng lẫn lộn nhau, thì cũng rõ lắm là ba Ngôi hiệp lại trong một thể yếu rất diệu rất cao. Lẽ đạo nầy tuy ngộ tánh phàm nhân không thể thau rõ nổi, thì nó cũng chẳng tự tương mâu thuẫn đâu, bèn là cái chìa khóa mở ra sự mầu nhiệm tương mâu thuẫn đâu, bèn là cái chìa khóa mở ra sự mầu nhiệm của các lẽ đạo khác, tín đồ có linh giác bao giờ cũng vui lòng công nhận là chánh giáo đáng tin đáng nhận mọi bề vậy.

I. KINH THÁNH LÀM CHỨNG CHO ĐẠO BA NGÔI

Muốn kiểm xác chứng về lẽ đạo Ba Ngôi thì phải khảo cứu Kinh Thánh. Trong cõi thiên nhiên có bằng chứng về sự thực hữu của Đức Chúa Trời; nhưng chẳng có bằng cớ nào chứng cho lẽ đạo Ba Ngôi. Chỉ Kinh Thánh đem xác cứ mà chứng rằng Đức Chúa Trời vốn độc nhất mà lại vẫn là tam vị. Dầu vậy, Kinh Thánh chẳng chỗ nào trực tiếp nói rằng Đức Chúa Trời có ba Ngôi, duy ngụ ý dạy lẽ đạo ấy thôi. Nhưng chúng ta có thể nói chắc chắn rằng hễ ai chẳng nhận Kinh Thánh quả đã dạy lẽ đạo ấy, thì cũng chẳng có thể hiểu được Kinh Thánh dạy lẽ gì cả.

1. CỰU ƯỚC LÀM CHỨNG

Diệu nghĩa của lẽ đạo Ba Ngôi là lẽ đạo khải thị, lần lần bày tỏ ra trong bộ Kinh Thánh. Trong Cựu Ước dầu chưa nói rõ ràng, cũng có nhiều đoạn ám chỉ đến, hoặc bằng lời nói hay là bằng hình bóng. Các bằng chứng của Cựu Ước như sau nầy:

a) Danh từ đa số, -- Chúng ta thử mở Kinh Thánh ra mà xem quyển đầu, đoạn đầu, câu đầu, thì thấy rằng: “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất.” Trong nguyên văn Hê-bơ-rơ, danh Đức Chúa Trời đây là Elohim, một danh từ đa số; chữ “dựng nên” là bara, một động từ đơn số. Danh từ Elohim ấy minh chứng rằng về phương diện trạng thái thực hữu, thì Đức Chúa Trời chẳng phải đơn vị, bèn là đa số, chia ra nhiều Ngôi; còn sự dùng động từ bara theo lối đơn số, ám chỉ rằng các Ngôi ấy đều đồng hiệp như một mà làm việc này.

b) Đại danh từ đa số, -- Trong Cựu Ước Đức Chúa Trời thường dùng đại danh từ đa số “chúng ta” mà tự xưng. Sáng-thế ký 1:26 có chép: “Đức Chúa Trời phán rằng: Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta.” (Cũng hãy xem Sáng-thế ký 3:22; 11:7; Ê-sai 6:8). Cách dùng đại danh từ ấy cũng ám chỉ về lẽ đạo Ba Ngôi, chứng rằng trong thể yếu Đức Chúa Trời có đa số.

c) Thiên sứ của Đức Giê-hô-va, -- Trong Cựu Ước có nói đến một Vị gọi là Thiên sứ của Đức Giê-hô-va. Vị ấy thường hiện ra cho các thánh tổ xưa, nhơn danh Giê-hô-va mà phán, tự xưng mình là chính Giê-hô-va; cũng được kẻ khác nhận là Giê-hô-va và chịu cho họ thờ lạy mình nữa. Những câu Kinh Thánh sau đây luận về Vị ấy: Sáng-thế ký 22:11, 16, 17; 31:11, 13; 16:9, 13. Cũng xem Sáng-thế ký 48:15, 16; Xuất 3:2, 4, 5; Các quan xét 13:20-22.

Vậy Thiên sứ của Giê-hô-va là ai? Kê cứu các đoạn sách nói đến Vị ấy, thì dễ biết rằng chẳng phải một vị thọ tạo đâu, bèn chắc là Ngôi thứ hai trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời, là Đạo (Logos), là Đấng Christ trước khi giáng sanh, đã từng hồi từng lúc mượn hình loài người mà hiện ra trong đời (xem Sáng-thế ký 18:2, 13; Dân-số ký 3:23, 28). Trong Tân Ước cũng có một vị gọi là thiên sứ của Chúa, nhưng vị ấy khác với vị của Cựu Ước; vì vị của Cựu Ước đòi và nhận sự thờ phượng; còn vị trong Tân Ước không cho phép ai thờ lạy mình, chỉ bảo người ta phải thờ phượng Đức Chúa Trời mà thôi. (Xin xem Xuất 3:5 với Khải Huyền 22:8, 9).

d) Sự khôn ngoan, -- Trong Châm Ngôn đoạn 8 có nói về sự khôn ngoan, bày tỏ sự ấy như có vị cách, từ trước vô cùng đồng thực hữu với Đức Chúa Trời, có tánh cách và thể yếu của Ngài. Ví dụ: Châm Ngôn 8:1, 22, 30, 31.

Trong Châm Ngôn 3:19 cũng chép rằng: “Giê-hô-va dùng sự khôn ngoan lập nên trái đất.” (Xin sánh với Hê-bơ-rơ 1:2). Xem kỹ những câu ấy, thì rõ lắm danh từ “khôn ngoan” đây chẳng nói về quan niệm khôn ngoan đâu; nhưng chắc ám chỉ về Đấng Christ, Ngôi thứ hai trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Vị ấy “là Đấng mà Đức Chúa Trời đã làm nên sự khôn ngoan… cho chúng ta” vậy (I Cô-rinh-tô 1:30).

e) Lời dự tả Mê-si, -- Cựu Ước có nhiều câu dự tả Đấng Mê-si-a, tỏ ra Ngài tuy nhiệp nhất với Giê-hô-va, thì cũng là một Đấng đặc biệt, có Ngôi riêng, không lẫn lộn với Đức Chúa Trời. Các câu viện dẫn sau đây ám chỉ rằng Đức Chúa Trời và Đấng Mê-si-a là một mà lại là hai, tuy là nhất thể mà lại phân vị, mỗi Đấng mỗi phẩm cách, mỗi ý chỉ riêng vậy. Ví dụ: Ê-sai 9:5-6; Mi-chê 5:1; Thi Thiên 45:6-7; Ma-la-chi 3:1.

Tóm lại, điều Kinh Cựu Ước khải thị về lẽ đạo Ba Ngôi thì ta phải nhận rằng Cựu Ước chỉ ám chỉ đến lẽ thật ấy, chớ chẳng minh huấn Đức Chúa Trời có Ba Ngôi đâu; nhưng lẽ đạo ấy, quả tiềm tàng trong đó như hột giống, chỉ nhờ cơ hội Tân Ước để nảy nở ra đó thôi.

2. TÂN ƯỚC LÀM CHỨNG

Duy Tân Ước khải thị rõ ràng lẽ đạo về Ba Ngôi Đức Chúa Trời, nhận rằng có ba Đấng đặc biệt gọi là Đức Chúa Trời. Sau đây xin dẫn bằng cớ để chứng cho.

a) Cha được nhận là Đức Chúa Trời, -- Tân Ước luận rất rõ ràng Cha là Đức Chúa Trời, có nhiều câu làm chứng cho; sau đây xin chỉ viện dẫn hai câu mà thôi: Giăng 6:27 và I Phi-e-rơ 1:2.

b) Giê-su Christ được nhận là Đức Chúa Trời, -- Tân Ước cũng có nhiều câu hiển nhiên xưng Đức Chúa Giê-su Christ là Đức Chúa Trời: Giăng 1:1; Rô-ma 9:5; Tít 2:13; Hê-bơ-rơ 1:8; I Giăng 5:20.

c) Thánh Linh được nhận là Đức Chúa Trời, -- Tân Ước lại có nhiều đoạn sách xưng Thánh Linh là Đức Chúa Trời, gọi Ngài là Thánh Linh của Đức Chúa Trời hay là của Giê-su Christ: Công Vụ 5:3-4; I Cô-rinh-tô 3:16; 6:19. Cũng hãy xem I Cô-rinh-tô 12:4-6.

d) Lễ nghi Báp-tem và lời chúc chỉ tỏ ba Ngôi, -- Khi Chúa Giê-su Christ dạy môn đô fveef cách phải làm báp-tem cho người ta, thì ngầm chứng cho lẽ đạo Ba Ngôi, vì bảo phải nhơn danh Cha, Con và Thánh Linh mà làm lễ ấy (Ma-thi-ơ 28:19). Lời Phao-lô chúc phước cho tín đồ Cô-rinh-tô cũng chứng cho lẽ đạo ấy nữa: Ma-thi-ơ 28:19; II Cô-rinh-tô 13:19. Cũng hãy so sánh các câu ấy với Dân-số ký 6:24-27 và Ê-sai 6:3.

Xem những bằng chứng ở trên, thì rõ lắm trong Tân Ước có giới thiệu ba Đấng gọi là Cha, Con và Thánh Linh; cả ba đều được xưng là Đức Chúa Trời, có đồng tánh, đồng cách, đồng thể, đồng căn, đồng đẳng với chính Đức Chúa Trời. Theo cách Kinh Thánh mô tả ba Đấng ấy, thì buộc phải nhận là luận về ba Ngôi đặc biệt hiệp nhất trong một thể yếu. Bằng chứng nhận như thế, thì giáo huấn của Kinh Thánh rất mơ hồ, câu này phản đối với câu kia, không còn thể nào ai hiểu nổi được nữa.

II. BA NGÔI HIỆP MỘT THỂ

1. ĐỊNH NGHĨA

Căn nguyên của lẽ đạo Ba Ngôi là Duy nhứt thần chủ nghĩa. Ba Ngôi Đức Chúa Trời chẳng phải là ba Thần đặc biệt, bèn là ba Ngôi ở trong một thể yếu. Chữ Ngôi đây chẳng đồng nghĩa mười phần với ý nghĩa chữ ngôi thường thông dụng cho cá nhân loài người. Bỏi vì mỗi ngôi riêng trong vòng loài người là mỗi cá nhân đặc biệt, có bản tánh và thể yếu khác nhau. Nhưng Đức Chúa Trời có ba Ngôi ở trong một bản tánh, một thể yếu, và sự nhứt thể ấy định nghĩa riêng cho chữ “ngôi” đó, bất đồng với chữ “ngôi” của loài người. Có thể nói rằng ngôi của ông Xoài bất đồng mọi bề với ngôi của ông Mít, đến đỗi thể yếu của ông này chẳng tương quan với thể yếu của ông kia chút nào. Song trong Đức Chúa Trời ba Ngôi đều do một thể yếu mà ra, có một bản tánh và chính là trạng thái về sự thực hữu của Đức Chúa Trời duy nhất. Dầu vậy, ba Ngôi ấy chẳng lẫn lộn nhau, mỗi Ngôi đều đặc biệt, đứng độc lập, có các nguyên tố của Ngôi riêng.

Bài tín điều Athanase (thế kỷ IV) minh chứng cho ý nầy rằng: “Cha là Đức Chúa Trời, Con là Đức Chúa Trời, Thánh Linh cũng là Đức Chúa Trời; dầu vậy, chẳng có ba Đức Chúa Trời, duy có một mà thôi. Cũng một thể ấy, Cha là Chúa, Con là Chúa, Thánh Linh cũng là Chúa; dầu vậy chẳng có ba Chúa, duy có một mà thôi. Như lẽ thật của Cơ Đốc giáo buộc chúng ta phải nhận rằng mỗi Ngôi trong ba Ngôi Đức Chúa Trời đều cả thảy là Đức Chúa Trời và là Chúa thể nào, thì chính lẽ thật ấy nghiêm cấm chúng ta nói rằng có ba Đức Chúa Trời hoặc ba Chúa cũng thể ấy.”

Xét về ba người riêng trong nhân loại, thì thấy họ có thể yếu chỉ giống như nhau mà thôi; còn ba Ngôi Đức Chúa Trời đồng có một thể yếu duy nhất vô phân. Cả thể yếu duy nhất ấy đều thuộc riêng về mỗi Ngôi, đến đỗi Ngôi nào cũng đều có cả thể yếu, cả thần cách, cả thần đức của Đức Chúa Trời vậy. Cho nên sự đa số trong Đức Chúa Trời chẳng thuộc về thể yếu, bèn là thuộc về Vị cách mà thôi. Chúng ta chẳng nên nói: Đức Chúa Trời là ba Ngôi và một thể yếu; bèn là nói: Đức Chúa Trời là ba Ngôi trong một thể yếu. Còn thể yếu duy nhứt ấy thực hữu theo ba trạng thái gọi là Cha, Con và Thánh Linh vậy.

2. CÁC CHỨNG CỚ VỀ BA NGÔI HIỆP MỘT THỂ

Những bằng cớ sau đây minh chứng cho sự hiệp nhứt của ba Ngôi Đức Chúa Trời.

a) Kinh Thánh chứng rằng Đức Chúa Trời duy nhất, -- Kinh Thánh thường tả ra Đức Chúa Trời là độc nhứt vô nhị. Chính Ngài hằng bảo tuyển dân Ngài rằng: “Hỡi Y-sơ-ra-ên! Hãy nghe: Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta là Giê-hô-va có một không hai” (Phục 6:4). “… Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, chớ chẳng có ai khác” (I Các vua 8:60). Gia-cơ cũng dạy rằng: “Ngươi tin rằng Đức Chúa Trời duy nhứt, ngươi tin phải; các quỷ cũng tin vậy mà run sợ” (Gia-cơ 2:19).

b) Chúa Giê-su Christ làm chứng, -- Chúa Giê-su Christ thường làm chứng rằng Ngài với Cha đều hiệp làm một: Giăng 10:30; 17:23; 14:9, 11. Chúa Giê-su Christ lại chứng rằng Thánh Linh cũng hiệp làm một với Cha và Con nữa: Giăng 14:18; 15:26.

c) Sự tương quan Ngôi này với Ngôi kia làm chứng, -- Ai ai cũng biết rằng mọi vật đều bởi Đức Chúa Trời (tức Cha) dựng nên, như có chép rằng: “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất.” (Cũng xem Xuất 20:8-11). Song nếu khảo cứu Kinh Thánh cho kỹ, thì lại thấy Con cũng dự phần đến cuộc tạo hóa, như trước giả thư Hê-bơ-rơ trong 1:1-3 đã dạy: “Đời xưa, Đức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên tri phán dạy tổ phụ chúng ta nhiều lần nhiều cách, rồi đến những ngày sau rốt nầy, Ngài phán dạy chúng ta bởi Con Ngài, là Con mà Ngài đã lập lên kế tự muôn vật, lại bởi Con mà Ngài đã dựng nên thế gian; Con là sự chói sáng của sự vinh hiển Đức Chúa Trời và hình bóng của bổn thể Ngài, lấy lời có quyền phép Ngài nâng đỡ muôn vật;sau khi Con làm xong sự sạch tội, bèn ngồi bên hữu Đấng tôn nghiêm ở trong nơi rất cao.”

Thế mà Con không những dự phần vào cuộc tạo hóa thôi đâu, lại dự đến mọi công việc khác của Cha làm nữa (Giăng 5:17, 19), hoặc việc bảo tồn muôn vật (Hê-bơ-rơ 1:3), hoặc việc cứu chuộc (II Cô-rinh-tô 5:19; Tít 2:10), hoặc việc phán xét (Hê-bơ-rơ 12:23; Giăng 5:22; Công Vụ 17:31), thì Ngài đều dự đến cả.

Ấy vậy, ta thấy công việc Cha làm cũng gọi là công việc của Con, và công việc Con làm cũng gọi là công việc của Cha; lại chức nhiệm của Cha cũng đồng xưng là chức nhiệm của Con nữa. Thực sự ấy há chẳng chứng minh rằng Cha và Con dầu là hai lại là một, dầu là một, lại là hai sao?

Kinh Thánh cũng có nhiều chỗ tỏ cái tương quan của Ngôi Cha với Ngôi Con là thể nào, thì cái tương quan của Ngôi Thánh Linh với Ngôi Cha Con cũng thể ấy. Giăng dạy rằng Con đến thế gian cốt để bày tỏ lẽ thật về Cha (Giăng 1:18). Chính Chúa dạy Phi-líp rằng thấy Con tức là thấy Cha vậy (Giăng 14:9). Còn về Thánh Linh thì Chúa chứng rằng, Ngài đến cốt để bày ra lẽ thật về con (Giăng 16:13-14).

Trong thư Ê-phê-sô cũng ám chỉ về sự tương quan của Ba Ngôi Đức Chúa Trời, tỏ ra mỗi Ngôi có tương quan với chúng ta nữa: Ê-phê-sô 4:6.

Cũng vì sự tương quan ấy mà Phao-lô xưng Đấng Christ là Thần Linh, lại xưng Thánh Linh vừa là Linh của Đấng Christ, vừa là Linh của Đức Chúa Trời: I Cô-rinh-tô 15:45; II Cô-rinh-tô 3:17; Ga-la-ti 4:6; Phi-líp 1:19; Khải Huyền 5:6.

Ấy vậy, ta thấy rõ Cha, Con và Thánh Linh, cả ba đều đồng kêu tên, đồng một công việc, có tương quan rất thân mật với nhau. Còn điều đó há chẳng chứng minh rằng Đức Chúa Trời là Ba mà Một, Một mà Ba sao?

III. BA NGÔI BÌNH ĐẲNG NHAU

Kê cứu Kinh Thánh thì thấy Ba Ngôi Đức Chúa Trời dường như có thứ bực, vì trong đó tỏ ra Cha là Ngôi thứ nhứt, Con là Ngôi tứh hai, và Thánh Linh là Ngôi thứ ba. Vậy, về thời gian, về quyền năng, về chức vị, thì trong ba Ngôi ấy há có chia ra trước sau, lớn nhỏ, hơn kém chăng? Đáp: Chẳng có đâu; vì Đức Chúa Trời là duy nhất, chia ra ba Ngôi trong một thể yếu, đến đỗi Ngôi nào cũng là Đức Chúa Trời trọn vẹn, nên giữa ba ngôi ấy chẳng có thể có sự bất đồng, bèn pahir có sự bình đẳng mọi bề mới hữu lý.

1. VỀ THỜI GIAN

Luận về thời gian thì trong ba Ngôi Đức Chúa Trời chẳng có trước sau, vì cả ba đều đồng thực hữu từ trước vô cùng. Song có kẻ nói: “Nếu vậy, thì sao gọi Christ là Con độc sanh của Đức Chúa Trời? Bởi vị hễ gọi là Con, thì phải có lúc Con sanh ra chớ?”

Ta đáp rằng: Tuy Ngôi thứ nhất gọi là Cha, và Ngôi thứ hai gọi là Con độc sanh của Cha (Giăng 1:14-16), thì danh từ ấy chẳng ám chỉ về sự khởi đầu thực hữu, bèn chỉ về sự tương đối đời đời của Con với Cha. Nếu xem xét bản tánh của Đức Chúa Trời thì dễ hiểu hơn, Đức Chúa Trời thực hữu đời đời, chẳng có lúc nào mà Ngài không có. Vả, trong thể yếu Đức Chúa Trời đã có ba Ngôi, là Cha, Con và Thánh Linh. Nếu Đức Chúa Trời thực hữu đời đời, thì ba Ngôi ấy tự nhiên cũng thực hữu đời đời vậy. Nói cách khác, nếu Ngôi Cha chẳng khi nào khởi đầu thực hữu, bèn vẫn có từ trước vô cùng, thì Ngôi Con cũng chẳng hề bắt đầu sinh ra, bèn cũng thực hữu từ trước vô cùng vây. Vì nếu chẳng có lúc nào ma không có Ngôi Cha, thì cũng chẳng khi nào mà không có Ngôi Con. Giả như nếu có một mặt trời đời đời, thì tự nhiên cũng phải có ánh sáng đời đời để tỏ ra mặt trời ấy mới hữu lý. Vì nếu chẳng có ánh sáng, thì cũng chẳng có mặt trời. Cũng vậy, nếu Ngôi Cha, vốn là sự chói lói của sự ánh sáng ấy, cũng đã thực hữu từ đời đời vô cùng vậy. Cho nên Ngôi thứ nhất và Ngôi thứ hai đều là thực hữu đời đời cả, từ trước vô cùng Ngôi nầy vẫn là Cha, Ngôi kia vẫn là Con, chẳng chia ra trước sau gì cả.

Về Thánh Linh cũng vậy. Tuy Ngôi thứ ba từ Cha mà ra (Giăng 15:26) và bởi Cha và Con mà sai xuống đời, thì lời ấy bất quá là luận về thời gian Ngôi thứ ba hiện ra cùng loài người, chớ chẳng dạy rằng lúc Ngài giáng lâm thì mới bắt đầu thực hữu đâu. Thánh Linh là một Ngôi trong ba Ngôi Đức Chúa Trời. nếu Đức Chúa Trời, vốn chia ba Ngôi trong một thể ấy. Thế thì, chúng ta thừa nhận rằng về phương diện thời gian, thì ba Ngôi Đức Chúa Trời chẳng chia ra trước sau trên dưới, bèn là đồng thời và bình đẳng nhau mọi bề. (Xem I Ti-mô-thê 1:17; Giăng 1:1; 8:58; Hê-bơ-rơ 9:14.)

2. VỀ QUYỀN NĂNG

Luận về quyền năng của ba Ngôi Đức Chúa Trời, thì Kinh Thánh dạy rõ chẳng có chia ra lớn nhỏ, cả ba đều có quyền năng bằng nhau. Song có kẻ hỏi rằng: “ Chúa Giê-su Christ đã xưng Cha là lớn hơn mình (Xem Giăng 14:28, Mác 13:32). Vậy, trong ba Ngôi há chẳng có sự phân ra lớn nhỏ sao?”

Ta đáp: Chúa Giê-su thật có xưng Cha là lớn hơn mình; nhưng sự lớn nhỏ ấy chẳng thuộc về thể yếu của thần tánh; bèn thuộc về phận sự và thứ tự trong động tác của Ba Ngôi vậy. Có thể nói rằng: Trong động tác của ba Ngôi mỗi Ngôi đều có bổn phận, mà thứ tự thực hành bổn phận của Ngôi nầy Ngôi kia thì có trước sau; nhưng sự trước sau ấy chẳng do sự hơn kém trong thể yếu đâu. Cả Kinh Thánh đều minh chứng rằng hoặc Cha, hoặc Con, hoặc Thánh Linh, cả ba đều là vô sở bất năng, vốn không phân biệt lớn nhỏ chút nào, bèn bình đẳng nhau cả (Xem các câu Kinh Thánh viện dẫn trong phần II, c).

3. VỀ CHỨC VỊ

Luận về chức vị của ba Ngôi Đức Chúa Trời, thì cũng chẳng có sự chia ra cao thấp. Cha, Con và Thánh Linh thật có tâm chi, vị cách và công việc khác nhau, song cả Ba đều đồng linh, đồng thể, đồng tánh, chớ chẳng có sang hèn, cao thấp khác nhau đâu. Song có kẻ hỏi: “Nếu trong Đức Chúa Trời có Cha, Con và Thánh Linh, thì há chẳng nhờ đó chia ra cao thấp sao?”

Ta đáp rằng: Chữ Cha Con đây không nên câu nệ theo nghĩa chữ cha con thế gian. Về cha con của loài người, thì cha vẫn có trước con; con thì bắt đầu mà có từ khi cha sanh hạ nó, có thể yếu khác với cha, và đối với đời thì con đứng về bực dưới cha. Nhưng về ba Ngôi Đức Chúa Trời thì khác. Cha và Con từ đời đời đồng thực hữu. Cha sanh Con từ trước vô cùng, cả hai Ngôi đều một thể yếu, đều gọi là Đức Chúa Trời trọn vẹn. Trong giống loài người con nhờ cha sanh mới có. Song trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời chẳng như vậy đâu; như Cha không nương dựa Con mà thực hữu thể nào, thì con cũng không nương dựa Cha mà thực hữu cũng thể ấy, đến nỗi nếu là xứng hiệp cho Thần thể yếu làm Cha, thì cũng xứng hiệp cho Thần thể yếu làm Con vậy. Song nói cách khác, thì Cha cũng phải nương dựa Con để làm Cha, cũng như Con phải nương dựa Cha để làm Con vậy. Vì nếu trong Thần thể yếu chẳng có Con, thì cũng chẳng có thể có Cha. Cho nên chỗ tương quan Cha Con trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời đã chẳng tương tợ với sự sanh hóa của loài người, thì cũng chẳng tại danh từ ấy mà chúng ta dám đoán rằng trong chức vị Cha Con có sự sang hèn, cao thấp.

Về Thánh Linh cũng vậy, Ngôi ấy từ trước vô cùng là Ngôi thứ ba, từ Cha và Con mà lưu ra, từ vĩnh viễn vốn là Linh của Cha và của Con, gọi là Linh của Đức Chúa Trời và của Christ vậy. Cho nên chúng ta quyết rằng: Cha, Con và Thánh Linh về thể yếu, chức vị, thần tánh, thần đức, thần quyền, thì đều bình đẳng cả, chẳng có chỗ nào gọi là trước sau, cao thấp hoặc khác nhau gì hết. Nhưng về Ngôi riêng, về bổn phận và việc làm thì có thứ tự trước sau: Cha là Ngôi thứ nhât, Con là Ngôi thứ hai, Thánh Linh là Ngôi thứ ba. Cha dự định, Con thực hành, Thánh Linh thành toàn; trong cuộc hành động thì Cha dùng Con, rồi Cha và Con cùng dùng Thánh Linh để làm xong các sự dự định của Cha vậy.

IV. LẼ BA NGÔI HIỆP MỘT RẤT MẦU NHIỆM

Trước khi chưa luận về lẽ đạo Ba Ngôi Đức Chúa Trời thì thấy huyền bí sâu nhiệm lắm; mà luận xong rồi, cũng vẫn còn thấy là lẽ đạo rất cao siêu, khó cho ngộ tánh ta hiểu thấu nổi.

1. KHÔNG CÓ SỰ LÝ GÌ MÀ VÍ DỤ CHỈ RÕ ĐƯỢC

Có kẻ ví dụ Cha, Con, và Thánh Linh như cây có gốc, nhánh và quả; mặt trời có hình, ánh sáng và nóng; vật có hình, sắc có màu; không gian có bề dài, bề rộng, bề cao; loài người có ba nguyên tố, là xác, hồn và linh. Các ví dụ ấy cốt để phát biểu lẽ đạo Ba Ngôi hiệp một; nhưng các sự lý ấy tuy bày tỏ hình bóng của ý niệm trong một, một trong ba, thì cũng chẳng có thể biểu minh hết được đạo mầu nhiệm ấy; vì trong cả cõi vật chất chẳng có cái gì làm ví dụ trọn vẹn về Ba Ngôi Đức Chúa Trời được. Nếu có dùng ví dụ nào, thì phải cẩn thận, dùng lấy nó làm căn cứ cho lẽ đạo ấy, e sai lầm lớn chăng.

2. KHÔNG THỂ LẤY LÝ TƯỞNG MÀ SUY HIỂU

Ta cũng chẳng có thể lấy lý tưởng mà biết được lẽ đạo mầu nhiệm nầy; duy phải nhờ lời khải thị của Kinh Thánh, và đức tin nhận lời ấy, mới mong biết được. Bởi vì lẽ đạo nầy rất huyền diệu cao siêu, trí khôn của người đời suy xét không nổi. Nhưng mà dẫu là lẽ đạo huyền diệu thật, thì cũng không dám kể là huyền nghi vô bằng mà không đáng tin đâu. Ta thường thấy trong loài sanh vật, từ bực hạ lên đến bực trung, bực thượng; hễ vật loại có cơ quan càng nhiều chừng nào thì tinh thần càng lớn chừng nấy, đến nỗi sanh vật hạng dưới khó hiểu bản tánh của sanh vật hạng trên.

Vả, Đức Chúa Trời về mọi phương diện đều là lớn hơn loài người khôn xiết kể. Thần tánh, thần cơ, thần linh của người xứng hiệp với Thần cách Ngài, vượt quá ngộ tánh của ta, cũng như nhân cách của mình vượt quá trí hiểu của thú vật vậy. Cho nên, nếu ngộ tánh ta chẳng nhờ lý tưởng mà hiểu thấu lẽ đạo Ba Ngôi được, thì có lạ gì đâu? Trái lại điều ấy rất tự nhiên, vì nếu chúng ta hiểu thấu mọi sự của bản tánh Đức Chúa Trời, thì chúng ta đã đồng bực với Ngài rồi; mà nếu đồng bực với Ngài thì chính chúng ta là Đức Chúa Trời rồi. Vậy, thì con thờ phượng Ngài làm chi?

3. KHOA HỌC CŨNG KHÔNG THỂ GIẢI NGHĨA

Khoa học cũng chẳng cắt nghĩa về lẽ đạo Ba Ngôi được. Tuy có kẻ dám nói rằng hễ điều nào không lấy lẽ bác học thực nghiệm mà cắt nghĩa, vẫn vô bằng chẳng đáng tin, thì tín đồ cũng chẳng cần đến khoa học để giãi bày sự lý về lẽ đạo ấy, vì thật điều đó hẳn bất năng mọi bề. Song đạo ấy chẳng phải là vô bằng vô lý đâu. Nó được khải thị cho ta cách thích hiệp với sự từng trải của ta.

Vả, chúng ta theo luật tiệm tấn mà học hiểu mọi sự mình có thể hiểu thấu được, hoặc là sự thuộc thể hay là sự thuộc linh cũng vây. Tra xem Kinh Thánh thì rõ ràng lẽ đạo nào cũng từ rẽ đến mắc, từ cạn đến sâu. Cựu Ước khải thị Đức Chúa Trời duy nhất vô phân. Từng hồi từng lúc các trước giả bộ ấy đều dường như ám chỉ về lẽ đạo Ba Ngôi, nhưng Cựu Ước chẳng minh huấn lẽ đạo đó đâu, chỉ nói đến cách lờ mờ mà thôi. Đến từ trời giáng sanh, nhận Đức Chúa Trời là Cha, và chính mình Ngài thì nhận quyền năng của Thánh Linh mà nói và làm. Đến khi chịu chết sống lại, mới được minh chứng rằng là Con Đức Chúa Trời có quyền năng. Trong Cựu Ước cũng nói về Linh của Đức Chúa Trời, nhưng đến Tân Ước mới rõ là Đấng có ngôi riêng, từ Cha và Con mà lưu ra. Còn từ ngày Lễ Ngũ Tuần trở đi, Ngài được khải thị rõ là Ngôi thứ ba trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời.

Tín đồ chân thật cũng từng trãi lẽ đạo nầy theo luật tiệm tấn dường ấy: trước hết lòng tin nhận Đức Chúa Trời độc nhứt vô nhị, là Đấng dựng nên muôn vật, đáng cho mình thờ phượng. Kế sau tấn bộ đến sự tin nhận Đức Chúa Giê-su Christ là Con Đức Chúa Trời, Cứu Chúa của mình. Sau nữa, tín đồ lại hiểu rằng muốn dự phần đến sự linh nghiệm của đạo Cứu rỗi, duy bởi nhờ Thánh Linh ứng dụng đạo ấy trong lòng của mình mới được thôi. Rồi từ đó trong lòng tín đồ chân thật lần lần có sự tấn bộ trong sự hiểu biết lẽ đạo về Cha, Con, và Thánh Linh. Song dầu linh tánh thấu rõ đạo ấy, thì ngộ tánh có lẽ cũng chẳng có thể lấy lời nói mà cắt nghĩa được, vì là lẽ đạo người thuộc linh khả năng tin, song bất năng minh thuyết vậy.

V. CÁC TÀ THUYẾT VỀ LẼ ĐẠO BA NGÔI

Từ cổ chí kim có lắm giao sư xướng lên những tà thuyết về Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Sau đây xin luận qua những tà thuyết quan hệ hơn hết.

1. TÀ THUYẾT VỀ BA CÁCH THỨC HIỆN RA

Trong thế kỷ III có nhà thần đạo Sabellius xướng lên tà thuyết về Ba Ngôi Đức Chúa Trời, dạy rằng ba Ngôi một thể chỉ là ba cách thức Đức Chúa Trời bày tỏ mình ra với loài người, chớ trong thần thể yếu của Đức Chúa Trời chẳng có ba ngôi đặc biệt đâu. Theo ý kiến nầy, trong cuộc tạo hóa Đức Chúa Trời tỏ mình ra bằng Cha; trong cuộc cứu chuộc Ngài tỏ mình ra bằng Con; còn trong việc ban sự sống, gây dựng Hội Thánh, thì Ngài lại tỏ mình ra bằng Thánh Linh.

Thuyết này rất sai lầm vì trái ý Kinh Thánh mọi bề. Kinh Thánh dạy rằng Đấng Christ, Ngôi thứ hai, thực hữu trước khi chưa giáng sanh (Giăng 1:18; Phi-líp 2:6; Cô-lô-se 1:17); kỳ thực, trước buổi sáng thế Cha Con đã giao thông với nhau, yêu thương nhau (Giăng 17:5, 24). Còn Thánh Linh, Ngôi thứ ba, cũng thực hữu trước khi chưa có tín đồ hay là Hội Thánh (Sáng-thế ký 1:2). Lại khi Cha phán cùng Con rằng: “Ngươi là Con yêu dấu của ta” (Lu-ca 3:22), thì há phải Cha lại phán cho chính mình Cha sao? Còn khi Đấng Christ hứa sai Thánh Linh xuống, thì há lại hứa sai mình xuống đấy ư? Nói như vậy thật vô lý quá chừng.

2. TÀ THUYẾT ARIUS

Arius (thế kỷ IV) quê ở Alexandrie, xướng rằng chỉ một mình Cha là Đấng vô thủy, Con và Thánh Linh không bằng Cha, bèn được dựng nên trước buổi sáng thế, Đấng Christ được xưng bằng Đức Chúa Trời, vì thứ bực Ngài là thứ hai đứng sau Đức Chúa Trời, được Đức Chúa Trời ban cho thần quyền để làm việc tạo hóa, cũng do Ngài mà muôn vật được dựng nên vậy.

Lý thuyết ấy rất phản đối Kinh Thánh. Vì nếu Con và Thánh Linh đều là Vị thọ tạo, thì chắc hữu thủy, có lẽ cũng hữu chung nữa chăng. Một thần thọ tạo tự nhiên hữu thủy, và được dựng nên bằng thể yếu khác với thể yếu của Cha. Mà nếu bằng thể yếu khác, thì rõ lắm Con chẳng phải là Đức Chúa Trời, bèn là một vị thọ tạo đó thôi. Nhưng Kinh Thánh dạy rõ lắm Con và Thánh Linh đều là Đấng vô thủy vô chung: Giăng 1:1; Hê-bơ-rơ 13:3.

Còn trong Hê-bơ-rơ 9:14 trước giả gọi Thánh Linh bằng “Thánh Linh đời đời.”

Tà thuyết Arius bị Công Giáo nghị hội Nicee nhóm năm 325 SC bài xích, cầm bằng tà giáo vậy.

3. DUY NHẤT THẦN GIÁO

Giáo nầy do hai chú cháu Lelio Socin (1525-1562) và Faust Socin (1539-1604) đề xướng. Hai nhà ấy chối thần tánh của Giê-su Christ, coi Ngài chỉ là người, nhưng được xưng là Con của Đức Chúa Trời, vì trong sự sanh hạ của Ngài, mẹ Ngài được Thánh Linh cảm hóa cách riêng; như vậy Đấng Christ chỉ là người, chứ chẳng phải là Đức Chúa Trời đâu. Còn Đức Chúa Trời, theo ý kiến này, chỉ có một Ngôi mà thôi.

Lý thuyết nầy giống như lý thuyết Arius, vì chối thần tánh của Đấng Christ; song cũng là khác, vì thuyết kia cho Đấng Christ tuy không phải là Đức Chúa Trời, thì cũng khác với loài người, được dựng nên trước sáng thế; nhưng thuyết duy nhứt thần nầy lại coi Ngài chỉ là người, song kể Ngài là trọn vẹn đệ nhứt trong cả dòng giống loài người vậy. Hiện nay giáo hội Duy nhứt thần chủ trương học thuyết nầy.

4. TAM THẦN THUYẾT

Thuyết này chủ trương rằng Ba Ngôi Đức Chúa Trời tức là ba Thần đặc biệt, có sự hiệp nhứt về sự tổ chức, nhưng chẳng có sự hiệp nhứt trong một thể yếu đâu. Như vậy, chẳng còn là Đức Chúa Trời trọn vẹn nữa, vì không thể nào có sự trọn vẹn ở trong ba Thần. Vì nếu có ba Thần thì phải chia sự trọn vẹn của Đức Chúa Trời ra làm ba, còn sự ấy là sự bất toàn; vì theo sự lý, hễ chi gọi là trọn vẹn mà bị chia ra từng phần, thì đều mất sự trọn vẹn liền vậy.

VI. CÁI DIỆU DỤNG TRONG LẼ ĐẠO BA NGÔI

1. CHÌA KHÓA CẦN YẾU CỦA ĐẠO ĐỨC CHÚA TRỜI

Lẽ đạo Ba Ngôi là thần đạo ở trong thần đạo, là nguồn của lẽ thật, nền của ơn cứu rỗi, neo của đức tin. Nếu ta không tin nhận lẽ đạo Ba Ngôi, thì lời nói trong cả bộ Kinh Thánh chẳng qua là hoa trong gương, trăng dưới nước, chỉ thuộc về hư ảo đó thôi. Nhưng lẽ đạo nầy là gốc của đạo Christ, là chìa khóa của cả sự khải thị của Đức Chúa Trời. Hễ công nhận lẽ đạo nầy, thì bao nhiêu ảo lý khác đều dễ hiểu cả. Nếu Đấng Christ không phải là Đức Chúa Trời, thì Ngài không thể bày tỏ Đức Chúa Trời được. Cơ Đốc giáo chẳng còn đáng gọi là sự khải thị chót, trọn vẹn, có một không hai của Đạo Đức Chúa Trời; duy là một tôn giáo trong nhiều tôn giáo bất đồng, phản đối nhau, bao hàm một ít lẽ thật, mà cũng lẫn lộn với nhiều sự sai lầm nữa đó thôi. Về Thánh Linh cũng vậy. Như chỉ có thể nhờ Đức Chúa Trời mà bày tỏ Đức Chúa Trời, thì người ta cũng chỉ có thể nhờ Đức Chúa Trời mà áp dụng Đức Chúa Trời cho mình. Nếu Thánh Linh không phải là Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời cũng chẳng có phương pháp nào đem tình yêu thương Ngài với các hạnh phước do bản ngã Ngài mà áp dụng vào lòng chúng ta được. Nói cách khác, nếu lẽ đạo Ba Ngôi không chân thật, thì chúng ta chỉ còn có thiên nhiên thần đạo, chỉ thờ phượng một Thần rất cao xa, không ai biết, nhờ cõi thiên nhiên tỏ ra cách lờ mờ khó hiểu; còn kết quả của sự thờ phượng ấy chỉ là dẫn chúng ta vào rừng rậm mù tối của tà giạo vạn hữu thần đó thôi.

2. CẦN YẾU CHO PHƯỚC LẠC VÔ CÙNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Ta thường thấy, nếu một người bị nhốt trong một phòng riêng, thì thật là đơn cô buồn tẻ không thể chịu nổi. Ấy bởi vì người ta ai ai cũng có thiên tánh giao thông. Hễ ai không được thỏa mãn bản tánh ấy, không thể nào làm người trọn vẹn. Vả, loài người đã được dựng nên giống như Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta chối lẽ đạo Ba Ngôi thì cũng chối Đức Chúa Trời có nguyên tánh giao thông vậy. Xét ra một Đức Chúa Trời ở chốn thái hư một mình, không ai bạn hữu, không người thân yêu, thật là tình trạng khốn khổ vô cùng, ngộ tánh ta không sao nhận được ấy quả là nguyên trạng của Đức Chúa Trời trọn vẹn vô cùng đâu. Mà nếu trong Đức Chúa Trời không có Ba Ngôi, thì cũng chẳng có sự giao thông thân mật, chẳng ai bình đẳng với Ngài, cũng chẳng ai biết lòng Ngài, chẳng ai giúp việc Ngài, cũng chăng rai bày tỏ Ngài ra cho ta hiểu được. Theo lẽ tự nhiên trong đời chẳng chi quý báu hơn tình yêu thương. Nếu trong cả thế giới chẳng có ai thương mình, thì mình há chẳng là người khốn khổ hơn hết sao? Dầu mình giàu có bốn biển mà chẳng có ai thương mình, thì chắc phải ngó núi cao mà tuôn lệ, trông biện rộng mà ngậm ngùi. Người như thế là lạc linh giữa thế gian đáng thương hại biết là dường nào! Song le, nhờ đó chúng ta suy nghĩ ra: Đức Chúa Trời vốn là Đấng thương yêu vô hạn vô lượng; nếu không có Đấng khác cũng vô hạn vô lượng như Ngài, để cùng dần gũi, cùng yêu đương, thì ôi thôi, Đức Chúa Trời cũng là một vị Lạc Linh đáng thương thay! Song luận như vậy thật vô lý, lại là phạm thượng nữa! Trong Đức Chúa Trời có đủ Ba Ngôi bình đẳng nhau, vẫn giao thông nhau, yêu thương nhau, hiệp tác nhau cách thỏa lòng đồng ý. Kê cứu Châm Ngôn 8:22-31 và Giăng 17:5, 24, thì biết được trước buổi sáng thể đã có sự giao thông, yêu thương cao xa thân mật của Ba Ngôi Đức Chúa Trời, làm cho Ba Ngôi ấy thỏa lòng phỉ chí vô cùng; về sau dầu tạo ra muôn ngàn thế giới cũng không thêm bớt gì nữa.

3. CẦN YẾU CHO ĐẠO CỨU RỖI

Nếu Đức Chúa Trời chỉ độc nhứt chẳng có tam vị nhứt thể, thì làm sao nên công cứu rỗi? Vì ở giữa Đức Chúa Trời và vị thọ tạo cao hơn hết có cái vực rất rộng rất sâu; nếu Đấng Christ không phải là Đức Chúa Trời, ai sẽ làm trung bảo, chuộc tội ta, bắt cầu qua vực sâu ấy mà đem ta trở lại cùng Đức Chúa Trời? Đấng Christ đứng trong thứ bực nào, thì chỉ có thể đem chúng ta đến thứ bực ấy. Thứ bực ấy gần hay xa Đức Chúa Trời bao nhiêu, thì chúng ta nhờ Đấng Christ mà được gần hay xa Đức Chúa Trời cũng bấy nhiêu. Duy Đấng có thần tánh thật mo ứi có thể hiến ta phục hòa với Đức Chúa Trời thôi. Ta vốn yếu đuối, có lòng bất khiết; song chỉ Đức Chúa Trời có thể ban sức cho ta, tẩy uế lòng ta. Một Đức Chúa Trời độc nhứt chẳng có phức số, có lẽ có thể làm Quan án ta, song chẳng có thể làm Cứu Chúa ta, khiến ta nên thánh bao giờ. Nhưng tạ ơn Đức Chúa Trời! Trong Ngài có phức số, tức là có Cha yêu thương vô hạn vô lượng; có Con làm Trung bảo, tỏ ra Cha, đem ta đến gần Đức Chúa Trời; có Thánh Linh thêm sức cho ta, lấy huyết của Đấng Christ mà tẩy uế lòng ta. Ba Ngôi ấy mới đủ nên công cứu rỗi ta vậy. Xem Giăng 3:16; 1:18; II Cô-rinh-tô 5:18-19; Giăng 16:7-11.

4. CẦN YẾU ĐỂ LÀM MÔ PHẠM CHO TA

Nếu trong Đức Chúa Trời chẳng có ba Ngôi, thì phận làm Cha của Đức Chúa Trời hữu thủy, có lẽ cũng hữu chung nữa; phận làm Con của Đấng Christ cũng tạm thời, về sau đây có lẽ sẽ hết chăng. Bằng vậy, phận làm Cha làm Con của Đức Chúa Trời đều bất toàn., chẳng có ích gì cho ta cả. Nhưng nếu phận làm Cha làm Con của Đức Chúa Trời đều thuộc về bản tánh vĩnh viễn của Ngài, thì làm mô phạm cho ta, chỉ dạy cho ta bổn phận của cha là hy sinh mình, ban mình nhưng không cho con; lại dạy ta bổn phận của con là vâng phục, yêu mến cha. Còn luật yêu thương buộc ta phải giống như Đức Chúa Trời trong các sự ấy, coi phận sự đó là mục đích tối thượng của bản ngã mình. Nói cho đúng, nếu trong Đức Chúa Trời không có Cha, Con và Thánh Linh, thì chúng ta cũng chẳng có chỗ nào làm mô phạm về tình nghĩa cha con, về sự vì kẻ khác mà hy sinh mình, về sự yêu thương vâng phục, về sự giao thông thân mật hạnh phước.

TỔNG LUẬN

Ấy vậy, lẽ đạo Ba Ngôi dầu là cao xa khó thấu, chẳng có thể lấy khoa học mà giải quyết, hoặc dùng triết lý mà chứng minh vì thật là sự mầu nhiệm trong sự mầu nhiệm của thần đạo, thì cũng chẳng phải là hư ảo vô bằng đâu; Đức Chúa Trời đã khải thị đạo ấy ra cách rõ ràng đích xác, đáng tin lắm, nên chúng ta chẳng dám lấy trí khôn hữu hạn mà dò lường cạn cợt, phán đoán sai lầm, song nếu lấy lòng tin mà công nhận, thì chắc nghiệm lẽ thật quý báu ấy trong sự từng trải mình, đến nỗi được giao thông với Cha, Con và Thánh Linh cách thân mật phước lạc vô cùng, đến nỗi chẳng còn có tí gì hồ nghi, khó tin trong lòng mình nữa.

 trích " Thần học Căn bản"

 

Câu hỏi và trả lời

Câu hỏi

Mục đích của chức vụ của Chúa Giê-su là giảng Tin Lành để người ta ăn năn, trở lại cùng Đức Chúa Trời, được tha tội, và hưởng sự sống đời đời. Nhưng tại sao trong Mác 4:11, 12, Chúa lại phán rằng: “nhưng về phần người ngoài, thì dùng cách thí dụ để dạy mọi sự, hầu cho họ xem thì xem mà không thấy, nghe thì nghe mà không hiểu; e họ hối cải mà được tha tội chăng.”Hãy thử giải nghĩa đoạn Kinh văn khó hiểu này.

Trả lời:

Khi chúng ta gặp một câu Kinh thánh hay một đoạn Kinh văn khó hiểu, chúng ta cần phải đọc đi đọc lại nhiều lần, cả phân đoạn, hoặc cả sách, đôi khi phải đọc nhiều sách khác trong Kinh thánh hoặc sách giải kinh, để hiểu thêm. Phân tích bối cảnh, cấu trúc,thể văn, để tìm ra ý nghĩa nguyên thủy của đoạn kinh văn.. Trong Phúc âm Mác 4:11,12 chép: “Chúa lại phán rằng: “nhưng về phần người ngoài, thì dùng cách thí dụ để dạy mọi sự, hầu cho họ xem thì xem mà không thấy, nghe thì nghe mà không hiểu; e họ hối cải mà được tha tội chăng.” Mới đọc qua, chúng ta sẽ thấy có sự mâu thuẩn với mục đích với chức vụ Chúa Giê-su là giảng Tin Lành để người ta ăn năn, trở lại cùng Đức Chúa Trời, được tha tội, và hưởng sự sống đời đời. Vậy chúng ta thử giải nghĩa đoạn kinh văn khó hiểu trên.

Muốn hiểu câu kinh văn trên chúng ta đọc Phúc âm Mac 4:1- 20. Cũng nên đọc thêm Ma-thi-ơ 13:1-23. Lu-ca 8: 4- 15. Trong Phúc âm cộng quan cho chúng ta biết Ngài dùng dụ ngôn để dạy về người gieo giống. Câu chuyện rất đơn giản và lời giải thích cũng rõ ràng.

Bốn loại đất gieo giống cũng như bốn hạng người. Tôi rất thích thú bài thơ Đường, luật bằng, vần bằng, của mục sư Lưu Văn Mão (là thân phụ của thi sĩ Tường Lưu) đã giải thích Lời thí dụ trên, đơn giản dễ nhớ và dễ hiểu bằng một bài thất ngôn bát cú:

Nầy lời thí dụ hãy nghe theo:

Thiên Đạo dường như bốn hạng gieo

Giống rớt dọc đường chim đớp mất

Hột rơi đá sỏi nắng khô queo

May nhằm đất tốt bông trìu trịu

Rủi gặp gai đè gốc tẻo teo

Ai có Thánh Linh thì dễ hiểu

Nầy lời thí dụ hãy nghe theo!

Trong ẩn dụ của Chúa Giê-xu, hạt giống có nghĩa là Lời Chúa trong Kinh thánh, chỉ có một loại - loại tốt nhất, lúa giống - Nhưng đất là chỉ về con người ở thế gian, có bốn loại: (a) Đất mặt đường là hình ảnh những người có lòng cứng cỏi đối với Lời Chúa, không để lời Kinh thánh lọt vào tai, họ không bận tâm suy nghĩ đến, phần lớn vì định kiến hoặc do truyền thống văn hóa, chủng tộc, gia đình, nền giáo dục đào tạo, hoặc một triết lý, một học thuyết, một tôn giáo hay một lý tưởng sống nào đó và họ cảm thấy thỏa mãn, không cần suy nghĩ gì thêm. Bề ngoài họ trông có vẻ phẳng phiu tốt đẹp, như bề mặt của lòng đường, nhưng lại không có chỗ nào trong tâm lòng cho hạt giống đạo là Lời Chúa có chỗ sinh sôi nẩy nở. (b)Tấm lòng như đất đá sỏi, đúng ra đây là một lớp đất mỏng phủ trên sỏi đá. Nó ví như những người nghe đạo Chúa, đáp ứng nhưng rất hời hợt, có thể nói là những người tin Chúa hình thức, phụ thuộc lễ nghi, dựa dẫm vào người khác và không có đức tin cá nhân, không cầu nguyện, không học Lời Chúa để tự nuôi mình. Giống cây lúa trồng ở thế đất này héo vì rễ không phát triển, không nuôi nổi cây, vì thiếu nước nhiều yếu tố khác.(c) Hạt giống gieo trong bụi gai. Bụi gai hàm ý đất chưa cày bừa làm cỏ kỹ lưỡng, ví như tấm lòng chưa dọn sạch, còn ẩn chứa những tàn dư xấu của đời sống cũ. Lúa cũng mọc lên nhưng bị chà chôm cỏ lùng chèn ép, cỏ dại mọc mạnh hơn làm cây lúa tuy không chết nhưng không có đủ chất bổ để đơm bông kết hạt. Đây cũng là hình ảnh của tín đồ xác thịt, ham mến thế gian, tin Chúa nhưng cũng đam mê vật chất, không đủ sức làm theo lời Chúa dạy, trở thành vô ích, hoàn toàn không kết quả cho Chúa, cuối cùng chịu chung số phận với bụi gai. (d) Đất tốt, là người nghe đạo chịu lấy và kết quả có nghĩa là nghe hiểu tiếp nhận và thực hành, để thật sự kết quả cho Chúa.

Trong Cựu ước cũng có câu chuyện về tiên tri Ê-sai được Đức Chúa Trời sai đi nói tiên tri. “ Ngài phán: Hãy đi và nói với dân nầy rằng: Nghe thì cứ nghe nhưng không hiểu. Nhìn thì cứ nhìn nhưng không nhận biết, Hãy làm cho lòng dân này chai lỳ. Tai nặng mắt nhắm. E rằng mắt chúng nó thấy được. Tai chúng nó nghe được, Lòng chúng nó hiểu được, Và quay trở lại rồi được chữa lành” (Ê-sai 6:9-10) Đối với các ngành chuyên môn khoa học, nghệ thuật...cần phải có một trình độ chuyên môn nào đó hoặc được đào tạo mới có thể hiểu được. Không phải bất cứ ai cũng biết nghe một bản nhạc giao hưởng hay biết thưởng thức một bức danh họa. Tục ngữ Việt Nam có câu "đàn gảy tai trâu" là để chỉ trường hợp một người không biết chân giá trị của sự vật. Những thí dụ cụ thể, với mục đích là giải thích cặn kẽ Lời Chúa, cho những người đang khao hát hiểu biết huyền nhiệm về Nước Trời là điều mà biết bao nhà tiên tri và người công chính thời xưa mong mỏi được thấy và nghe mà không được. “ Xem mà không thấy Nghe mà không hiểu” ý nói có mắt như mù, có tai như điếc, cho dù Nước Trời đã ẩn dụ một cách cụ thể, để người nào nghe và tiếp nhận, chợt hiểu ra, “e họ hối cải và được tha tội chăng”.

Đọc hiểu, hay lắng nghe lời Chúa là một nghệ thuật. Nghệ thuật biết đọc theo đúng nguyên tắc và đúng phương pháp. Đúng nguyên tắc là phải cầu nguyện xin Đức Thánh Linh khai tâm mở trí, phải hạ mình, ăn năn, để tấm lòng thanh thản trống không, để miệng thì đọc tai thì nghe. Khi nghe và mở lòng ra để tiếp nhận lời phán dạy. Đúng phương pháp là phải đọc từ đầu đến cuối, Từ Sáng thế đến Khải huyền, mỗi sách phải đọc từ chương đầu đến chương cuối, không đọc tắt ngang. Bản dịch mới mỗi đầu sách có Lời giới thiệu và bố cục của người dịch, phần nầy giúp cho người đọc hiểu một cách tóm lược nội dung, bối cảnh và chủ đề của Sách. Phần bố cục giúp người đọc hiểu được dàn ý phân chia từng chủ đề nhỏ. Đã nói là nghệ thuật, thì người đọc cũng cần phải suy niệm thần học, tìm thấy sứ điệp, lẽ đạo mà khúc kinh văn đó, Chúa muốn dạy dỗ chúng ta điều gì. Người đọc không in trí theo sự hiếu biết hoàn toàn theo lý trí, hoặc sự mớm ý của sách giải kinh, phần người đọc phải nhận và hiểu lời phán đó cho chính mình.

Về phần tôi, vì chưa được học nguyên ngữ tiếng Hê-bơ rơ, nghe rằng chữ viết và câu văn Do Thái đọc ngược từ phải qua trái. Với câu kinh văn (Mác 4:11-12) tôi mạo muội đảo ngược một mệnh đề, đưa mệnh đề sau ra phía trước để câu văn thông suốt theo Việt ngữ, cho chính tôi và quý vị dễ hiểu là:

Bản đề nghị của tôi Bản truyền thống Bản KJV

11- “ Ngài phán rằng: Sự mầu nhiệm của Nước Đức Chúa Trời đã tỏ ra cho các ngươi; nhưng về phần người ngoài, họ xem thì xem mà không thấy, nghe thì nghe mà không hiểu. 12 Thì (các ngươi) dùng thí dụ để dạy mọi sự, hầu cho họ hối cải mà được tha tội chăng.

 

11- Ngài phán rằng: Sự mầu nhiệm của nước Đức Chúa Trời đã tỏ ra cho các ngươi; nhưng về phần người ngoài, thì dùng cách thí dụ để dạy mọi sự, 12 hầu cho họ xem thì xem mà không thấy, nghe thì nghe mà không hiểu; e họ hối cải mà được tha tội chăng. And he said unto them, Unto you it is given to know the mystery of the kingdom of God: but unto them that are without, all these [things] are done in parables: 12 That seeing they may see, and not perceive; and hearing they may hear, and not understand; lest at any time they should be converted, and [their] sins should be forgiven them.

Tóm lại:

Những câu chuyện dụ ngôn là một phần trong văn chương kể chuyện (Narative) Khi Chúa ngưng câu chuyện, thường đưa ra lời bình luận hay giải thích. Trong trường hợp nầy cũng vậy, khi Đức Chúa Giê-su ở một mình, những kẻ xung quanh Ngài cùng mười hai sứ đồ hỏi Ngài về các lời thí dụ. Ngài đã giải thích cặn kẻ: Đạo là hạt giống, là Lời Chúa trong Kinh thánh. Độc nhất vô nhị (có một không hai) Nhưng đất là con người, phân ra bốn loại. Không phải ai nghe cũng liền tiếp nhận lời Chúa đâu, cần phải dùng thí dụ để giảng giải hầu cho: “Sự mầu nhiệm của Nước Đức Chúa Trời đã tỏ ra cho các ngươi; nhưng về phần người ngoài, họ xem thì xem mà không thấy, nghe thì nghe mà không hiểu. Thì (các ngươi) dùng thí dụ để dạy mọi sự, hầu cho họ hối cải mà được tha tội chăng.”

MS Phạm Hiếu Đức

 

 

 

 

Lượt truy cập

003240650
Hôm nay
Tuần này
Trong tháng
Tổng truy cập
542
5268
14255
3240650

Liên hệ

TRUNG TÂM MỤC VỤ PHỤC HƯNG ĐẮC THẮNG
Địa chỉ  : 2195 HWY 138 Riverdale, GA 30296
Email  : phuchung@vmrcenter.com
Điện thoại  : (770) 961-9509 & (770) 996-1893